- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 210/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Triều
2. Ông Phạm Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa:
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2021/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương T , sinh năm 1985(có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: số 16/42 đường A, khu phố 6, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng T1 , sinh năm 1988(có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Cộng Hòa Liên Bang Đức.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02/4/2021 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trọng T1kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh E và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57, Quyển số 01/2013, ngày 29/5/2013. Sau khi kết hôn ông Nguyễn Trọng T1 sang Đức sinh sống, làm việc trước, sau đó bà cũng sang Đức để sinh sống. Sau khi cư trú tại Đức một khoảng thời gian, do văn hóa, môi trường sống thay đổi và thời gian dành cho nhau không còn nhiều, giữa hai người không có sự chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Do đó dần dần tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, dẫn đến việc cả hai không hiểu nhau, và không hòa hợp. Từ đó tình cảm cả hai dần phai nhạt, không còn liên lạc với nhau. Bà xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Nguyễn Trong T1 .
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
*. Tại bản tự khai của hồ sơ hợp pháp hóa lãnh sự ngày 11/5/2021 bị đơn ông Nguyễn Trọng T1trình bày:
Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Phương T vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có
Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Lê Thị Phương T và ông Nguyễn Trọng T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Nguyễn Trọng T1.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Phương T và ông Nguyễn Trọng T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh E và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57, Quyển số 01/2013, ngày 29/5/2013 nên là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Phương T , Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Nguyễn Trọng T1 đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đức. Sau khi kết hôn vợ chồng sống xa cách cả hai không có thời gian dành cho nhau, cũng vì khoảng cách địa lý vợ chồng ít liên lạc với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn. Do vậy bà T xác nhận không còn tình cảm với ông T1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, về phía ông T1 cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T . Điều này cho thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Thảo xin ly hôn ông Nguyễn Trọng T1là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Lê Thị Phương T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Phương T và ông Nguyễn Trọng T1.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 57, Quyển số 01/2013, ngày 29/5/2013, do Ủy ban nhân dân tỉnh E; Cấp cho bà Lê Thị Phương T và ông Nguyễn Trọng T1không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Không có
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Phương T chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2019/0093943 ngày 15 tháng 4 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - VKSND TPHCM; - Cục Thi hành án dân sự TPHCM; - UBND tỉnh E; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |