- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 210/2021/HS-ST Ngày: 23 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Bùi Thị Nguyệt
2- Ông Đinh Quốc Vương
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lã Hải Long - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 209/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206 /2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T (Tên gọi khác: không). Giới tính: Nam. Sinh ngày 28/8/1985, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ z, Khu Cao S, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Ngọc D. Họ tên mẹ: Đinh Thị L. Có vợ Vũ Bích H, có một con sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/3/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 16/11/2013 chấp hành xong bản án. Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Đình T1 - Sinh năm 1967 (Nơi cư trú: Thôn Tân Q, xã Hộ Đ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh), vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn V - Sinh năm 1969 (Địa chỉ: thôn Đông H, xã Đông X, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Thanh T2 - sinh năm 1991 (Địa chỉ: Tổ p, khu o, phường Trần Hưng Đ, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Vũ Ngọc L - sinh năm 1994 (Địa chỉ: Tổ l, khu k, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/11/2020, Nguyễn Ngọc T đi bộ qua khu vực công trường xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước cầu Thảo Ly thuộc tổ q, khu w, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. T gặp nhóm công nhân đang ngồi uống nước tại lán nên xin vào uống nước. Tại đây, T nhìn thấy anh Trần Đình T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272 trị giá 2.998.800 đồng đến dựng trước lán, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, rồi đi bộ vào trong công trường xây dựng. T nảy sinh ý định trộm cắp xe trên để bán lấy tiền ăn tiêu. T quan sát thấy không có người xung quanh đã mở khóa điện điều khiển xe trên về cất giấu tại nhà thuộc tổ z, khu Cao S, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả. Đến đầu tháng 12/2020, T đã bán xe cho người thanh niên không rõ lai lịch tại cửa hàng sửa xe mô tô gần nhà được 1.400.000đồng và đã ăn tiêu hết. Khi bán xe T không nói cho người mua xe biết là tài sản do T trộm cắp mà có. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Tuấn cùng một số công nhân đã mở xem camera tại lán và nhận ra T. Chiều ngày 23/3/2021, anh T1 gặp T đi bộ qua khu vực Bến D , phường Cẩm Tr , TP Cẩm Phả nên đã trình báo Công an thành phố Cẩm Phả để triệu tập T đến làm việc. Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng, hiện chưa thu giữ được chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272 màu sơn đen bạc là của ông Phạm Văn V mua mới và đăng ký chủ sở hữu vào tháng 5/2008. Tháng 2/2020 ông V bán chiếc xe nêu trên cho một người đàn ông khoảng 60 tuổi tại cảng Cái R, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh với giá 5.000.000 đồng. Ông Trần Đình T1 khai báo mua chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272 màu sơn đen bạc vào đầu tháng 2/2020 tại cảng Cái R, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh của một người đàn ông tên V khoảng 55 tuổi với giá 5.000.000đồng, có giấy đăng ký xe. Ông có kiểm tra số khung, số máy của xe thấy trùng khớp với số ghi trong giấy đăng ký và trong thời gian sử dụng ông không thay đổi hay sửa chữa linh kiện, thiết bị, kết cấu xe.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐG ngày 17 / 5 /2021 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cẩm Phả, kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272 trị giá 2.998.000đ (Hai triệu chín trăm chín mươi tám ngàn đồng). Bị cáo và bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản.
Những người làm chứng như anh Phạm Văn Vững, anh Nguyễn Thanh T2 và anh Vũ Ngọc L cùng bị hại anh Trần Đình T1 có lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Bị cáo đã bồi thường 4.000.000 đồng cho anh Tuấn và anh Tuấn không có yêu cầu bồi thường gì khác, về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản Cáo trạng số 271/CT - VKSCP ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Nguyễn Ngọc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Ngọc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 – 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, lời khai của bị hại, những người làm chứng, cùng các chứng cứ tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐG ngày 17 / 5 /2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cẩm Phả… thấy phù hợp với nhau về không gian, thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc và tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/11/2020, tại tổ q, khu w, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc T lợi dụng khi chủ sở hữu tài sản không trông coi quản lý, đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H6-0272, trị giá 2.998.800đ (Hai triệu chín trăm chín mươi tám ngàn tám trăm đồng) của anh Trần Đình T1. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”...
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ:
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Cũng vì tham lam bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu, do đó thấy cần thiết phải phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tuy nhiên cũng xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp giá trị không lớn, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc dù nhân thân bị cáo đã có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng đã được xóa án tích, mức độ tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình. Chiểu theo quy định tại Điều 65 BLHS thì thấy không cần thiết bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 4.000.000 đồng cho anh Tuấn và anh Tuấn không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người mua xe của Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cơ quan điều tra xác minh khi đủ căn cứ đề nghị xử lý sau, nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm S , thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 151 ngày 28/10/2021 của Công an thành phố Cẩm Phả đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - VKSND tp. Cẩm Phả; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tp. Cẩm Phả; - Cơ quan THAHS Công an tp. Cẩm Phả; - Chi cục THADS tp. Cẩm Phả - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |