- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH A Bản án số: 210/2021/HNGĐ-ST Ngày: 09/12/2021 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam
Bà Phan Hoàng Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 291/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 403/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1996
Địa chỉ: số 822/42 khóm BĐ2, phường B, thành phố L, tỉnh A (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huệ T1, sinh năm 1990
Địa chỉ: số 822/42 khóm BĐ2, phường B, thành phố L, tỉnh A (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 03 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Phạm Thanh T và ông Nguyễn Huệ T1 tự nguyện quen biết, tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 32/KH.2014 ngày 13/03/2014 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh A cấp cho ông T1 và bà T, chứng nhận ông bà là vợ chồng đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T1 không quan T1 chăm sóc vợ con. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục xây dựng gia đình hạnh phúc lâu dài nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng giữa bà T và ông T1 có một con chung tên Nguyễn Bá C, sinh ngày 13/11/2014 (nam). Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng.
Về quan hệ nợ chung, tài sản chung: Bà T và ông T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết về sau.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Huệ T1 vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa :
Bà Phạm Thanh T yêu cầu ly hôn với ông T1, về con chung tên Nguyễn Bá C, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian sống ly thân nhiều năm, con chung được bà T nuôi dưỡng tốt, có nơi ở và học tập ổn định, bản thân bà T có việc làm và thu nhập đủ nuôi sống bản thân và chăm lo cho con chung. Về tài sản và nợ chung giữa các bên sẽ thỏa thuận giải quyết nếu ông T1 có tranh chấp. Ông T1 vắng mặt không có lý do, không đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp quy định pháp luật. Riêng bị đơn ông T1 vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của ông và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên tòa xét hôn nhân giữa bà T và ông T1 tự quen biết, tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 13/3/2014 tại UBND phường B, được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên bà T xin được ly hôn với ông T1. Về quan hệ con chung, có một tên Nguyễn Bá C, sinh ngày 13/11/2014, bà T trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng. Về nợ chung, tài sản chung: Bà T và ông T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được Tòa án tạo điều kiện hòa giải nhưng bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn, còn ông T1 không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà T cho thấy ông T1 không có ý chí hàn gắn gia đình.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 không thể tiếp tục thực hiện tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; mục đích của hôn nhân không đạt được.
Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Bá C, sinh ngày 13/11/2014) ngày 03/6/2021, hiện đang sống cùng với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Cháu C trình bày hiện đang sống cùng mẹ và nếu cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng muốn được chung sống cùng mẹ. Xét thấy, con chung đang sinh sống và có nguyện vọng sống cùng với bà T, do đó để đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên chấp nhận giao cháu C cho bà T được chăm sóc, nuôi dưỡng quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T và ông T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh A; bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T1 và ông T1 đang cư trú tại phường B, thành phố L, tỉnh A. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà T và ông T1 là “tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A là phù hợp quy định pháp luật
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Huệ T1 không đến Tòa và vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T1.
Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án: Bà Phạm Thanh T và ông Nguyễn Huệ T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh A theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/KH.2014 ngày 13/3/2014, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay, bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn, bà T xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do ông T1 không quan T1 chăm sóc vợ con, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà T luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Xét, hôn nhân giữa bà T và ông T1 mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, bà T không còn tình cảm với ông T1, không yêu thương, quan T1, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình, chăm lo con cái. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông T1 vắng mặt, không trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T tức là ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông đã được pháp luật quy định nên không có căn cứ xét yêu cầu của ông T1. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Bá C, sinh ngày 13/11/2014 (nam). Hiện nay, con chung đang sống ổn định với bà T, được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, nguyện vọng của cháu Nam mong muốn sống chung với bà T. Do đó, xét cần thiết phải giao con chung tên Nguyễn Bá C cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, nếu có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác (nếu có).
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T yêu cầu được tự thỏa thuận với ông T1 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T1 cũng không có ý kiến cung cấp cho Tòa án về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà T nộp tiền án phí theo quy định pháp luật. Ông T1 không nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 19, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 233, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Huệ T1.
Về quan hệ con chung: Bà Phạm Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Bá C, sinh ngày 13/11/2014 (nam). Ông T1 không cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu. Bà T phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông T1 được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thanh T và ông Nguyễn Huệ T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thanh T nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002113 ngày 31 tháng 03 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh A.
Bà Phạm Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Huệ T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông T1.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TPLX; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Phương |