vanban.org

Bản án 210/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN HIẾU - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2019/HS-ST
Ngày: 28/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2019/ QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (tên gọi khác H già), sinh ngày 11/10/1968 tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 666/55 Võ Văn K, phường A, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T (chết) và bà Phạm Thị H (chết); hòan cảnh gia đình có vợ tên Chu Thị T; có 01 người con sinh năm 1998; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/12/1986 bị Công an quận 5 cưỡng bức lao động do có hành vi “Cùng đồng bọn tổ chức cướp giật tài sản riêng của công dân”; Năm 1988 bị Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội „Cướp tài sản của công dân”, theo bản án số 618 ngày 06/12/1988 chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/1992. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/9/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ1, xã Tn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/5/2019, Nguyễn Văn H tụ tập Võ Duy N, Triệu Thị Thu H, Trần Văn H1, Huỳnh Văn P, Lê Duy C, Nguyễn Duy H1 cùng với Ch, H tiền góp và U (chưa xác định) đến quán cà phê trên đường Song hành Quốc lộ 22 để bàn bạc cho gái mại dâm giả vờ bắt khách mua dâm đưa vào nhà số 54/4C ấp MH1, xã TC, huyện Hóc Môn để trộm cắp tài sản. Phân công nhiệm vụ như sau: Hồ giả làm chủ cho thuê phòng và thu tiền thuê phòng của khách. Gái mại dâm đưa khách vào phòng, yêu cầu khách cởi quần áo ra để massage. N, H, C vào phòng kế bên có thông qua phòng của khách bằng một lỗ hổng khoét sẵn ở phía dưới giường) để lấy quần áo của khách mua dâm lục lấy trộm tài sản. Sau khi lấy trộm tài sản xong H sẽ ra hiệu cho gái mại dâm biết để cùng tẩu thoát. C, H đứng ngoài đường cảnh giới và đi theo khách mua dâm để xem có đi trình báo Công an không. H tiền góp cảnh giới ở gần Công an xã Trung Chánh. H và U ngồi tại quán cà phê để giữ tiền và tài sản lấy trộm.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Duy C chở Huỳnh Văn P (nam giả gái) ra quốc lộ 22 thuộc xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn bắt khách mua dâm. P đón được khách mua dâm là anh Trần Văn D thì gọi điện thoại báo cho C biết rồi đưa anh D đến nhà số 54/4C ấp MH như đã bàn bạc. Bằng thủ đoạn như đã nêu, H chui qua lỗ vào lấy trộm quần của anh D, đem ra cùng C lục quần anh D lấy trộm được 900.000đồng, 01 điện thoại Iphone 6 rồi đưa cho N. N lấy tài sản đem ra khỏi nhà thì gặp H đứng ở lề đường đối diện nên đưa cho H. Sau khi biết H, N, C đã lấy được tài sản, H gõ cửa ra hiệu cho P. P thấy anh D có đeo 01 nhẫn vàng trên tay nên nói cho P mượn, đồng thời dùng tay tháo nhẫn trên tay anh D ra, anh D không nói gì. P giả vờ nói với anh D ra ngoài lấy bao cao su rồi đưa chiếc nhẫn của anh D cho C cất giấu. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày P, C, H, N, H đang định tẩu thoát thì bị Đội CSĐTTP về TTXH Công an huyện Hóc Môn phối hợp với Công an xã Trung Chánh kiểm tra yêu cầu về trụ sở làm việc. Riêng Nguyễn Văn H cùng với C, U đã tẩu thoát.

Ngày 16/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã xét xử và tuyên phạt Huỳnh Văn P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Lê Duy C 02 năm tù, Võ Duy N 02 năm tù, Trần Văn H 02 năm tù, xử phạt Triệu Thị Thu H 01 năm tù và Trần Văn H 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Riêng đối với các đối tượng còn lại của vụ án, Cơ quan điều tra đã tách hành vi và đề nghị xử lý sau.

Ngày 04/9/2019, Công an xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh triệu tập Nguyễn Văn H lên làm việc và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn để xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Khi phân công nhiệm vụ cho Huỳnh Văn P, Nguyễn Văn H nói với P nếu bị hại có tiền trên người thì trộm cắp luôn, việc P giả vờ mượn nhẫn vàng của anh D rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt thì H không bàn bạc và không biết. Đối với 01 điện thoại di động và 900.000đồng chiếm đoạt của anh D, H đã bán và tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 103/2019 ngày 16/5/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn định giá:

- Điện thoại di động hiệu Iphone 6, 32 GB màu vàng là 3.000.000đồng

- 01 nhẫn vàng 18 Kara có đính đá hột màu trắng, trọng lượng 1,8 chỉ: 3.870.000đồng

Vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen.

Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS - HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với người bị hại và đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02(hai) năm 06(sáu) tháng đến 03(ba) năm tù; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen; Đề nghị bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.900.000đồng

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, với bản kết luận điều tra của công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/5/2019, Nguyễn Văn H tụ tập Võ Duy N Triệu Thị Thu Hồ, Trần Văn H, Huỳnh Văn P, Lê Duy C, Nguyễn Duy H cùng với C, H tiền góp và U (chưa xác định) đến quán cà phê trên đường Song hành Quốc lộ 22 để bàn bạc, phân công trong việc trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Lê Duy C chở bị cáo Huỳnh Văn P (nam giả gái) ra quốc lộ 22 thuộc xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn bắt khách mua dâm, bị cáo P đón được khách mua dâm là anh Trần Văn D thì điện thoại báo cho bị cáo C biết rồi đưa anh D đến nhà số 54/4C ấp MH như đã bàn bạc. Bằng thủ đoạn như đã nêu, bị cáo H chui qua lỗ tường vào lấy trộm quần của anh D đem ra ngòai cùng bị cáo C lục sóat lấy trộm được 900.000đồng, 01 điện thoại Iphone 6 rồi đưa cho bị cáo N đem ra khỏi nhà thì gặp bị cáo H đứng ở lề đường đối diện nên đưa cho bị cáo H. Sau khi biết các bị cáo H, N, C đã lấy được tài sản, bị cáo H gõ cửa ra hiệu cho bị cáo P biết.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 103/2019 ngày 16/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Hóc Môn kết luận: 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 6, 32 GB màu vàng là 3.000.000đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 18 Kara trọng lượng 1,8 chỉ: 4.685.400đồng. Tổng cộng số tiền là 7.685.400đồng

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[3] Bị cáo là người đã thành niên, có khả năng lao động nhưng chỉ vì tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho mục đích ích kỷ của cá nhân mà các bị cáo lao vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Trong vụ án này bị cáo H là người tổ chức phân công vai trò cụ thể cho từng người, Huỳnh Văn P, Lê Duy C, Trần Văn H, Võ Duy N là người trực tiếp lấy tài sản của người bị hại, Triệu Thị Thu H có vai trò ra hiệu cho P giả gái mại dâm biết để cùng tẩu thoát, Nguyễn Duy H có vai trò đứng ngoài đường cảnh giới(những đối tượng này đã được xét xử vào ngày 16/9/2019). Do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Đối với số tiền thu lợi từ việc trộm cắp tài sản và phần bồi thường dân sự đã được giải quyết tại bản án số 134/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đối tượng Huỳnh Văn P, Lê Duy C, Trần Văn H, Võ Duy N, Nguyễn Duy H, Triệu Thị Thu H có tranh chấp với bị cáo H về phần bồi thường dân sự thì sẽ khởi kiện bằng một vụ dân sự khác.

Đối với các đối tượng Trần Thị H, Nguyễn Anh T, Lê Tấn M, Trà Văn M là một nhóm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản theo sự phân công của bị cáo H cũng bằng thủ đoạn như đã nêu trên, Tuy nhiên do chưa xác định được bị hại nên Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm bị hại và đề nghị xử lý sau.

[7] Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Văn D đã nhận lại chiếc nhẫn và số tiền 4.000.000đồng nên không có yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét .

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 nhẫn kim loại bằng vàng, Cơ quan điều tra đã trả cho anh Trần Văn D là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[9] Về án phí: Buộc cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 173; điểm s, khỏan 1, Điều 51; các Điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù;

Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2019;

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Áp dụng các điểm a,khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen nộp vào ngân sách Nhà nước;

(Vật chứng được ghi theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKS-HS ngày 07/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh);

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xin xét xử phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ