- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 210 / 2018/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2018 V/v: Ly hôn giữa chị D và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn On.
Các Hội thẩm nhân dân dân:
Ông Phạm Thế Phương.
Bà Huỳnh Thị Hồng Nho.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2017/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “ Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:159 /2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kiều D, sinh năm 1985.
Cư trú tại: ấp AH, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Chí T, sinh năm 1980.
Cư trú tại: khóm LH, phường LC, thị xã T, tỉnh An Giang ( vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 8 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Kiều D trình bày: Tôi và anh Đặng Chí T tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới vào năm 2009, đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Long Hưng, thị xã Tân Châu theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung vợ chồng có hạnh phúc được đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chúng tôi không hiểu nhau, không hợp nhau, cuộc sống không hạnh phúc và ly thân từ đó cho đến nay. Về quan hệ con chung có 01 con tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010, hiện đang sống với mẹ. Về quan hệ tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Tôi yêu cầu xin ly hôn với anh Đặng Chí T , yêu cầu xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn anh Đặng Chí T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật về thủ tục theo quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Đối với các đương sự thì thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70- 71- 72- 73 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới vào năm 2009, đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2012. Cuộc sống chung vợ chồng có hạnh phúc được đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chúng tôi không hiểu nhau, không hợp nhau. Về quan hệ con chung có 01 con tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010, hiện đang sống với mẹ. Về quan hệ tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Chị Kiều D yêu cầu xin ly hôn với anh Chí T , chị Kiều D yêu cầu xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh Chí T cấp dưỡng nuôi con. Anh Chí T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định vụ án như sau: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phiên tòa tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp “ Ly hôn ” giữa chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Phạm Thị Kiều D yêu cầu xin ly hôn với anh Đặng Chí T, về con chung yêu cầu được nuôi con tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ.
Anh Đặng Chí T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
- khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
- Khoản 1-2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
- Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về quan điểm và hướng giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T. Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị Kiều D được tiếp tục nuôi con chung tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010, chị Kiều D không yêu cầu anh Chí T phải đóng góp nuôi con. Về chia tài sản: Không có. Về nợ chung không có nợ. Về án phí: Chị Phạm Thị Kiều D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát là có cơ sở xem xét và phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Hội đồng xét xử xét nhận thấy: Hôn nhân của chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T quá trình chung sống có hạnh phúc được đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Kiều T cho rằng trong cuộc sống vợ chồng không hiểu nhau, không hợp nhau, sống không hạnh phúc và ly thân từ đó cho đến nay. Ngày 27/02/2018 Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Đặng Chí T, được Ban nhân dân khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu cung cấp, anh Đặng Chí T, sinh năm 1980, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện đương sự Đặng Chí T không có mặt tại địa phương mà đi làm ăn thỉnh thoảng 2-3 tháng có trở về nhà. Ông Đặng Văn Tài là cha ruột Đặng Chí T cho biết vợ chồng T-D thỉnh thoảng có cãi vã nhau nhưng không to lớn lắm và ly thân từ năm 2014, về tài sản chung, nợ chung của T-D thì không có. Từ khi vợ chồng T-D ly thân thì gia đình hai bên không hàn gắn lại, nay tôi nhận thấy cần thiết cho T-D được ly hôn.Trong suốt thời gian ly thân vợ chồng không tự hòa giải để về chung sống lại mà để mâu thuẫn diễn biến ngày một gay gắt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T ly hôn là phù hợp. Về con chung tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010, hiện đang sống với mẹ và cháu Kiên có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu cha mẹ ly hôn, hội đồng nghĩ nên giao cho chị Kiều D được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kiên là phù hợp và chị Kiều D không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi con nên hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ.
Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Phạm Thị Kiều D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0001364 ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9-51-56-81-82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 khoản 1 Điều 147 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 điểm Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
- Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kiều D và anh Đặng Chí T.
2. Về nuôi con chung:
- Chị Phạm Thị Kiều D được tiếp tục nuôi con chung tên Đặng Thế Kiên, sinh ngày 03/10/2010, chị Kiều D không yêu cầu anh Chí T phải đóng góp nuôi con.
3. Về chia tài sản:
- Không có.
- Về nợ chung không có nợ.
4. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Phạm Thị Kiều D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0001364 ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; - VKSND thị xã; -THADS thị xã - Các đương sự (để thi hành) - Lưu hồ sơ; - Lưu: VP. | Đào Văn On |