vanban.org

Bản án 21

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoài P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt : Lê Hoài P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 04/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Hoài P - Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoài P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự qui định; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________________
Bản án: 21/2019/HS-ST
Ngày: 16/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Kiên Hiển

2/ Bà Lê Thị Xuân Mai

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3: Ông Nguyễn Thế Hạo – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 số 139 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

LÊ HOÀI P, giới tính: nam, sinh năm 1998 tại Tây Ninh; hộ khẩu thường trú: ấp C, xã Đ, huyện C Thành, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: không; con ông Lê Quốc A và bà Vương Thị M.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2016, bị can Lê Hoài P bị Công an xã Ninh Điền, huyện C Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính 750.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2018.

(Có mặt)

Bị hại:

Chị Nguyễn Ngọc Minh C, sinh 2000

Hộ khẩu thường trú: 518 đường M, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, Lê Hoài P đi bộ từ nhà trọ số 338/3 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 4 Quận 3 ra đầu hẻm thì phát hiện chị Nguyễn Ngọc Minh C đang đi bộ trên đường Nguyễn Đình Chiểu, trên vai bên phải chị C có đeo túi xách màu đen, do không có tiền tiêu xài nên P nảy sinh ý định cướp giật túi xách của chị C. Lúc này, P đi theo phía sau chị C đến gần ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng 8, Phường 4, Quận 3 thì áp sát giật túi xách của chị C và chạy quay lại vào hẻm số 338 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 4, Quận 3 trốn thoát. Chị C tri hô đuổi theo nhưng không kịp. Do không đuổi kịp nên chị C đã đến tiệm B’Mart trên đường Nguyễn Đình Chiểu Quận 3 để gặp bạn và kể lại sự việc bị giật túi xách, mô tả hình dáng người giật để các bạn cùng chia nhau đi tìm, còn chị C đến Công an Phường 4 Quận 3 trình báo. Sau đó, anh Trương Minh Tiến là bạn của chị C phát hiện Lê Hoài P đi vào khách sạn Thái Thịnh số 82 đường Nguyễn Thượng Hiền, Phường 5, Quận 3 nên báo cho Công an Phường 4, Quận 3 kiểm tra tại phòng 401 khách sạn Thái Thịnh thì phát hiện Lê Hoài P đang ở trong khách sạn, thu giữ được 01 túi xách màu đen của chị C, bên trong có 02 ví tiền, 01 giấy đăng ký xe tên Vũ Như Lai, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Ngọc Minh C, 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV mang tên Nguyen Vu và số tiền 1.300.000 đồng, Công an Phường 4 Quận 3 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Lê Hoài P đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như trên. P khai trong túi xách của chị C có số tiền 1.570.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, P đã tiêu hết 270.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 01 túi xách bằng vải màu đen, logo màu xanh lá cây có chữ “living traveling share” bên trong có: một số vật dụng cá nhân, 01 ví cầm tay màu hồng, 01 ví cầm tay màu nâu caro, 01 chứng minh nhân dân số 026007349 mang tên Nguyễn Ngọc Minh C, 01 căn cước công dân số 079200014880 mang tên Nguyễn Vũ, thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng BIDV số 9704180097822951 tên Nguyen Vu, 01 giấy đăng ký xe mô tô số A0209529 mang tên Vũ Như Lai và số tiền 1.300.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 đã trao trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Minh C.

- Thu giữ của Lê Hoài P 01 mũ lưỡi trai màu trắng, áo sơ mi dài tay màu trắng, quần tây dài màu đen và 01 sợi dây nịt màu nâu có đầu bằng kim loại (có chữ ARMANI) đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS - HS ngày 19/03/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Lê Hoài P về tội “Cướp giật tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại Nguyễn Ngọc Minh C xác định đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 270.000 đồng nên không có bất cứ yêu cầu gì về dân sự trong vụ án này. Về mức hình phạt chị C đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phát cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoài P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, phát hiện chị Nguyễn Ngọc Minh C đang đi bộ trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh trên vai có đeo túi xách nên Lê Hoài P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. P đã đi bộ theo chị C, khi đến gần ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Cách Mạng Tháng Tám thì giật lấy túi xách của chị C bên trong có 1.570.000 đồng cùng các giấy tờ tùy thân rồi nhanh chóng chạy bộ tẩu thoát nhằm chiếm đoạt là bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Hoài P là người đã trưởng thành nên bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi sai trái bị xã hội lên án và pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc. Tuy nhiên vì tham lam, muốn có nhiều tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động nên bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi mà bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai ngay trên đường phố, thể hiện sự liều lĩnh bất chấp pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc mới đủ sức răn đe và giáo dục đối với bị cáo và cũng để làm gương cho người khác.

Tuy nhiên cũng xét, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tài sản sau khi chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả cho người bị hại nên thiệt hại xảy ra không lớn. Tại phiên tòa bị cáo còn được người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó khi lượng hình, cần căn cứ các điểm h- s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi xách bằng vải màu đen, logo màu xanh lá cây có chữ “living traveling share” bên trong có: một số vật dụng cá nhân, 01 ví cầm tay màu hồng, 01 ví cầm tay màu nâu caro, 01 chứng minh nhân dân số 026007349 mang tên Nguyễn Ngọc Minh C, 01 căn cước công dân số 079200014880 mang tên Nguyễn Vũ, thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng BIDV số 9704180097822951 tên Nguyen Vu, 01 giấy đăng ký xe mô tô số A0209529 mang tên Vũ Như Lai, số tiền 1.300.000 đồng đây là các tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý hợp pháp của bị hại Nguyễn Ngọc Minh C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 đã trao trả lại cho chị C là phù hợp.

Đối với 01 mũ lưỡi trai màu trắng, áo sơ mi dài tay màu trắng, quần tây dài màu đen và 01 sợi dây nịt màu nâu có đầu bằng kim loại (có chữ ARMANI) đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo nên cần giao trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có bất cứ yêu cầu gì về dân sự nên Tòa án không phải xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 171, các điểm h - s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Hoài P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt : Lê Hoài P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 04/12/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Giao trả cho bị cáo 01 mũ lưỡi trai màu trắng, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần tây dài màu đen và 01 sợi dây nịt màu nâu có đầu bằng kim loại (có chữ ARMANI) đã qua sử dụng.

(Tài sản giao trả được ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/BB/2019 ngày 22/3/2019 giữa Công an Quận 3 với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3)

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 331và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ