- Tranh chấp gì? "Hoàng Thị C - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C 06 (Sáu) tháng tù về tội Môi giới mại dâm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn PHÚC THỌ thµnh phè Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 21/2024/HS -ST Ngµy 25 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, T PHỐ HÀ NỘI
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Oanh.
Ông Lê Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14 /2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị C, sinh năm 1986 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Khu T, xã Đ, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L và bà Hoàng Thị T; có chồng (đang chấp hành hình phạt tù) và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; theo danh chỉ bản số 036 lập ngày 06/01/2024 của Công an huyện Phúc Thọ; tạm giữ ngày 30/12/2023, tạm tha ngày 05/01/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà 73 P, phường N, thị xã Sơn Tây, T phố Hà Nội, vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu 5, xã Đ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
+ Anh Phùng Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 8, xã S, huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: 124 Phố P, thị trấn P, huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, Công an huyện Phúc Thọ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc nghi vấn có 02 đôi nam nữ mua bán dâm tại nhà nghỉ Sao Đêm, địa chỉ: t dân phố số 6, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội. Công an huyện Phúc Thọ phối hợp cùng Công an thị trấn Phúc Thọ tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh nhà nghỉ Sao Đêm, phát hiện tại phòng 403 có một đôi nam nữ đang quan hệ tình dục với nhau, xác định là Phùng Văn T (sinh năm 1988, trú tại Sen Phương, Phúc Thọ, Hà Nội) và Nguyễn Thị Bích N (sinh năm 1981, trú tại khu 5, Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ). Quá trình đấu tranh khai thác thông tin ban đầu, cả hai đều khai nhận việc mua bán dâm với nhau do sự d n dắt, giới thiệu của một người phụ nữ tên C, hiện đang bán dâm tại phòng 402 cùng nhà nghỉ này.
T công tác tiến hành kiểm tra phòng nghỉ 402 phát hiện đôi nam nữ là Nguyễn Quốc T và Hoàng Thị C đang quan hệ tình dục với nhau.
Quá trình điều tra đã xác định: Hoàng Thị C và Nguyễn Thị Bích N quen biết và chơi với nhau t lâu, cùng làm nhân viên tại một quán mát xa và ở cùng xóm trọ tại khu vực dốc Đá bạc, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, do khó khăn về kinh tế nên ngoài việc đi làm mát xa, cả hai còn cùng đi bán dâm để lấy tiền.
Khoảng đầu năm 2023, khi đi chơi cùng bạn b , C có quen biết với Nguyễn Quốc T và có cho nhau số điện thoại, kết bạn alo với nhau. C sử dụng tài khoản alo tên “Hoavôlệ đăng ký số điện thoại 0563.123.550, kết bạn với tài khoản alo của Thắng tên là “Quốc Phương để thỉnh thoảng h n nhau đi chơi và cùng nhau đi ăn uống.
Khoảng đầu tháng 11/2023, trong một lần C và N đi ăn cùng T thì gặp Phùng Văn T, khi trò truyện thì có cho nhau số điện thoại. Trong lúc ngồi ăn thì T rủ C, T rủ N đi mua bán dâm, thỏa thuận giá bán dâm là 1.000.000 đồng/lần/người.
Ngày 25/12/2023, T nhắn tin qua alo cho C với nội dung là: hôm sinh nhật C (là ngày 21/12/2023) không có nhà nên h n C cuối tuần về T sẽ t chức sinh nhật bù. Đến ngày 28/12/2023, T nhắn tin h n ngày 30/12/2023 sẽ gặp C v a đi ăn uống t chức sinh nhật sau đó sẽ đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục (mua bán dâm), T sẽ trả cho C 1.000.000 đồng là tiền bán dâm; C đồng ý. Trưa ngày 29/12/2023, T nhắn tin qua alo cho C, nhờ C rủ N đến ngày 30/12/2023 sau khi đi ăn xong thì bán dâm cho T, T sẽ trả tiền công cho C là 500.000 đồng. C đồng ý, rồi nhắn tin qua alo cho N với nội dung là T và T h n hai người đi chơi, T bảo N đi chơi với T (ý là đi mua bán dâm) hết bao nhiêu T trả tiền.
- 2 -
Như đã h n, trưa ngày 30/12/2023, C và N cùng nhau đi t phường Xuân Khanh xuống huyện Phúc Thọ để đi ăn cùng T và T. Trong lúc đang ăn, T gọi riêng C đi ra ngoài rồi đưa cho C số tiền 1.500.000 đồng, nói với C là “em cho chị riêng 500.000 đồng, còn chị đưa cho chị N 1.000.000 đồng , C cất vào túi quần. Lúc sau C và N cùng đi vệ sinh thì C đưa cho N 1.000.000 đồng, nói là tiền Thành mua dâm của N. n trưa xong, cả 04 người cùng nhau đến nhà nghỉ Sao Đêm thuộc địa phận thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ thuê phòng C và T vào phòng 402, còn N và T vào phòng 403 để thực hiện hành vi giao cấu tình dục thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện.
Vật chứng thu giữ tại phòng 402 gồm: Thu trên đầu giường 01 (một) Cếc bao cao su đã qua sử dụng; thu của Hoàng Thị C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A23, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 354650131137295, tại thời điểm kiểm tra lắp 01 sim có số: 0563.123.550 và số tiền 2.150.000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); thu của Nguyễn Quốc T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J4+, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 355021101725023, có lắp sim 0878141079, màn hình bị nứt vỡ.
Vật chứng thu giữ tại phòng 403 gồm: Thu trên nền nhà 01 (một) Cếc bao cao su đã qua sử dụng; thu của Nguyễn Thị Bích N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 354874107590028, tại thời điểm kiểm tra có lắp 01 sim số: 0964.629.069 và số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng); thu của Phùng Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A70, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 355915104068895, có lắp sim 0985.469.590, màn hình bị nứt vỡ.
Bản cáo trạng số 16/CT- VKS ngày 31/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Thị C về tội “Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị C đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu T tội Môi giới mại dâm như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị C t 06 tháng đến 09 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng của vụ án, không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo và tuyên về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều
- 3 -
tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 29/12/2023 anh Phùng Văn T nhắn tin Zalo cho Hoàng Thị C nhờ C rủ Nguyễn Thị Bích N bán dâm cho T và T sẽ trả công cho C 500.000 đồng. C đồng ý, rồi nhắn tin qua alo cho N với nội dung là T và T h n hai người đi chơi, T bảo N đi chơi với T (ý là đi mua bán dâm) hết bao nhiêu T trả tiền. Như đã h n, trưa ngày 30/12/2023, C và N cùng nhau t phòng trọ ở Sơn Tây xuống huyện Phúc Thọ để đi ăn cùng T và T. Trong lúc đang ăn, T gọi riêng C đi ra ngoài rồi đưa cho C số tiền 1.500.000 đồng, trong đó 500.000 đồng cho riêng C, còn 1.000.000 đồng để C trả tiền mua dâm cho N. Lúc sau, C và N cùng đi vệ sinh thì C đưa cho N 1.000.000 đồng, nói là Thành trả tiền mua dâm cho N. n trưa xong, cả 04 người cùng nhau đến nhà nghỉ Sao Đêm thuê phòng theo đó C và T vào phòng 402, còn N và T vào phòng 403 để thực hiện hành vi mua bán dâm thì lực lượng Công an phát hiện. Hoàng Thị C có hành vi làm trung gian, d n dắt cho Phùng Văn Thành mua bán dâm với Nguyễn Thị Bích N và đã được hưởng lợi 500.000 đồng, nên đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh và viện d n điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng; làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, đó là bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số (Mường), hoàn cảnh gia đình khó khăn (chồng đi tù, có 02 con còn nhỏ) đây là các tình tiết giảm nh được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt.
. Về hình phạt b sung: Xét bị cáo nghề nghiệp tự do, không có thu nhập n định và điều kiện kinh tế để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với anh Nguyễn Thành Đạt (chủ quản lý nhà nghỉ Sao Đêm) khi cho khách thuê phòng nghỉ thấy Thắng, Thành, C và N có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã kịp thời trình báo sự việc đến cơ quan Công an. Quá trình điều tra anh Nguyễn Thành Đạt đã
- 4 -
xuất trình đầy đủ giấy tờ liên quan đến hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với Hoàng Thị C, Nguyễn Quốc T, Phùng Văn Thành và Nguyễn Thị Bích N là những người có hành vi mua bán dâm với nhau vào tháng 11/2023 và T, T, N cũng mua bán dâm với nhau ngày 30/12/2023. Công an huyện Phúc Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Cơ quan điều tra thu của Hoàng Thị C số tiền 2.150.000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra làm rõ, trong số tiền thu giữ của C có 150.000 đồng không liên quan đến vi phạm pháp luật, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho C số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Cơ quan điều tra thu của Nguyễn Thị Bích N số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra làm rõ, trong số tiền thu giữ của N có 2.800.000 đồng không liên quan đến vi phạm pháp luật, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho N số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).
- Đối với số vật chứng đã thu giữ còn lại (Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xử lý) của vụ án, gồm:
+ 02 (hai) Cếc bao cao su đã qua sử dụng, là vật chứng của vụ án tịch thu tiêu hủy;
+ 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A30 màu xanh, có lắp sim, đã cũ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A23 màu đen, có lắp sim, đã cũ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy J4+ màu đen, có lắp sim, đã cũ, màn hình bị nứt vỡ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A70 màu đen, có lắp sim, đã cũ, màn hình bị nứt vỡ, xác định đây là phương tiện bị cáo và những người liên quan liên lạc để mua bán dâm, nên tịch thu để sung ngân sách Nhà nước;
+ Số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) là tiền liên quan đến mua bán dâm, nên tịch thu để sung ngân sách Nhà nước;
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C 06 (Sáu) tháng tù về tội Môi giới mại dâm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị bắt thi hành án, được tr thời gian bị tạm giữ t ngày 30/12/2023 đến ngày 05/01/2024.
- 5 -
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) Cếc bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) Chiếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A30 màu xanh, có lắp sim, đã cũ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A23 màu đen, có lắp sim, đã cũ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy J4+ màu đen, có lắp sim, đã cũ, màn hình bị nứt vỡ; 01 (một) Cếc điện thoại di động kiểu dáng SamSung Galaxy A70 màu đen, có lắp sim, đã cũ, màn hình bị nứt vỡ
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 14/3/2024 giữa Công an huyện Phúc Thọ và C cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)
(Theo giấy nộp tiền ngày 14/3/2024 giữa Công an huyện Phúc Thọ và C cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Thị C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản sao bản án hoặc t ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
N¬i nhËn:
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn Phúc Thọ; - C«ng an huyÖn Phúc Thọ; - THADS huyÖn Phúc Thọ; - BÞ c¸o, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - L u hå s¬. - 6 - - 7 - | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa TrÇn Duy H ng |