vanban.org

Bản án 21/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo K’ Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo K’ Đ 01 ( Một ) năm 06 ( Sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’ Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- LÂM Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HSST
Ngày: 30- 01 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM Đ

Với thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Đức Lâm.

Ông Nguyễn Văn Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm ( cũ ). Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2025/TLST-HS ngày 26/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2026/HSST-QĐ ngày 16/01/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: K’ Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2004; Tại: Lâm Đ.

HKTT và nơi thường trú: Thôn 4A, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đ.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: K’Ho; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo.

Con ông: K’ Đ, sinh năm 1975; Con bà: Ka T, sinh năm 1980, trú tại Thôn 4A, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đ.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Có 01 tiền án

- Ngày 20/3/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ) xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 19/2024/HSST. Chấp hành án xong hình phạt ngày 23/6/2024, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 01/6/2020 bị Công an xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đ (nay là Công an xã Hòa N, tỉnh Lâm Đ) xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt hành chính số 143/QĐ-XPHC.

- Ngày 29/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ) xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 102/2021/HSST. Chấp hành án xong ngày 28/11/2022, thời điểm phạm tội K’ Đ chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2025 cho đến nay tại xã Hòa N, tỉnh Lâm Đ.

2. Những người tham gia tố tụng

- Người bị hại:

Ông Trần Văn P, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn La Òn, xã Hoà B, tỉnh Lâm Đ.

( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh K’ H, sinh năm 2006

Địa chỉ: Thôn 6A, xã Hoà N, tỉnh Lâm Đ ( Vắng mặt ).

2. Anh Nròng H, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn La Òn, xã Hoà B, tỉnh Lâm Đ ( Vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: K’ Đ đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/6/2025, K’ Đ đến nhà Nròng H, ở thôn La Òn, xã Hòa B, tỉnh Lâm Đ để chơi. Sau đó K’ Đ đến tiệm tạp hóa “Cô Bách” do anh Trần Văn P, ở thôn La Òn, xã Hòa B, tỉnh Lâm Đ làm chủ ở đối diện nhà Nròng H để mua đồ nhưng thấy không có ai nên K’ Đ đi vào bên trong nhà, K’ Đ phát hiện 01 tH sơn nhỏ màu trắng, không có nắp tH đặt ở vị trí góc nhà, cạnh tủ lạnh bên trong có để tiền nhiều mệnh giá khác nhau nên nảy sinh ý định trộm cắp. K’ Đ quan sát xung quanh không có ai rồi dùng tay lấy các tờ tiền đã được gom sẵn buộc thành 01 cọc bỏ vào túi quần rồi đi về phía nhà của Nròng H, sau đó K’ Đ đếm thì thấy nhiều tờ tiền mệnh giá 10.000 Đ, 20.000 Đ, 50.000 Đ, 100.000 Đ và 200.000 Đ, tổng cộng là 1.800.000 Đ. Tại nhà Nròng H, K’ Đ lấy ra số tiền 300.000 Đ để mua bia nhậu và cho Nròng H 300.000 Đ nhưng không nói đó là tiền trộm cắp mà có. Sau khi nhậu xong, K’ Đ đi về nhà gặp K’ H, ở thôn 6A, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đ và tiếp tục dùng 300.000 Đ tiền trộm cắp được mua rượu, đồ nhậu và thuốc lá, khi K’H hỏi tiền đâu mà có thì K’ Đ trả lời là tiền đi làm thêm mà có. Toàn bộ số tiền trộm cắp được còn lại, K’ Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Cáo trạng số 63/CT-VKS-KV4 ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ truy tố bị cáo K’ Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025.

Đề nghị Hội Đ xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025.

- Xử phạt bị cáo K’ Đ từ 18 đến 24 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: ông Trần Văn P không yêu cầu bị cáo bồi thường, do vậy đề nghị Hội Đ xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác đen, 01 quần short màu đen.

Trả lại cho ông Trần Văn P 300.000 Đ mà người liên quan Nròng H nộp lại.

-Về án phí: Bị cáo K’ Đ phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Lâm Đ; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Bị cáo K’ Đ đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, vào ngày 25/6/2025 tại tiệm tạp hóa của anh Trần Văn P ở thôn La Òn, xã Hòa B, tỉnh Lâm Đ bị cáo K’ Đ đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp số tiền 1.800.000 Đ của anh Trần Văn P.

Hành vi trên của bị cáo K’ Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Ngày 29/12/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ) xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 102/2021/HSST. Ngày 20/3/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ) xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 19/2024/HSST. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, không chịu ăn năn hối cải mà lại tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Do ông Trần Văn P không yêu cầu bị cáo bồi thường, do vậy Hội Đ xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác đen, 01 quần short màu đen.

Trả lại cho ông Trần Văn P 300.000 Đ mà người liên quan Nròng H nộp lại.

Các vấn đề khác: Đối với K’H và Nròng H là người cùng K’ Đ sử dụng số tiền K’ Đ trộm cắp được để ăn uống và Nròng H được K’ Đ cho số tiền 300.000 Đ, tuy nhiên K’ H và Nròng H không biết đây là tiền K’ Đ trộm cắp mà có, do đó không xem xét trách nhiệm hình sự K’H và Nròng H là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đ thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.

Về án phí: Bị cáo K’ Đ phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo K’ Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025.

Xử phạt bị cáo K’ Đ 01 ( Một ) năm 06 ( Sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác đen, 01 quần short màu đen.

(Vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/12/2025 giữa phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Lâm Đ với Công an tỉnh Lâm Đ ).

Trả lại cho ông Trần Văn P 300.000 Đ mà người liên quan Nròng H nộp lại tại giấy nộp tiền ngày 18/12/2025 của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Chi nhánh Bảo Lộc.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K’ Đ phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 30/01/2026 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đ xét xử phúc thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đ xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan).

Cỡ chữ