- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi quốc c - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điều 3…"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2026/HSST Ngày: 10/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Sỹ 2. Bà Phạm Thị Tú Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo: VI QUỐC C, tên gọi khác: Không, sinh ngày 08/4/1988 tại tỉnh Gia Lai; CCCD/CMND số: 215026070, cấp ngày: 21/8/2003, nơi cấp: Công an tỉnh B (cũ); Nơi thường trú: Không xác định; Chỗ ở hiện nay: E Â, phường Q, tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: V (chết) và bà Đặng Thị Bích L, sinh năm 1965; Vợ: Đinh Thị D, sinh năm 1997 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 18/6/2025, bị Cơ quan Công an phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là Công an phường Q, tỉnh Gia Lai) xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày, UBND phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là UBND phường Q, tỉnh Gia Lai) ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng chất ma túy trong thời hạn 01 năm; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh G; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đoàn Thế T, sinh năm 1964; Trú tại: 2 Â, phường Q, tỉnh Gia Lai; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tháng 01/2025, Vi Quốc C đi từ phòng trọ (địa chỉ E Â, phường Q, tỉnh Gia Lai) đến Công ty A (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai) để xẻ ván gỗ, do không có hàng để làm nên C quay về. Trên đường về, đến đoạn Đèo Long M (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai), C thấy một người đàn ông khoảng 55 tuổi, đi xe mô tô hiệu Attila màu xám (không rõ biển kiểm soát) đeo một túi vải màu đen dài khoảng 1,2 m (loại túi đựng cần câu cá) rẽ vào hướng núi; đoán biết người này đang mang theo súng hơi để bắn chim nên C đi theo vào sâu trong rừng núi để xem. Sau khi người này bắn được khoảng 08 (tám) con chim các loại, C xin bắn thử một lần nhưng không trúng. Sau đó, C trả lại súng và tiếp tục đi theo xem người này bắn chim. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, C hỏi mua lại khẩu súng trên và thỏa thuận giá mua là 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng); C đưa 1.380.000 đồng (một triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền mặt và một tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD; người đàn ông trên đưa lại cho C 01 (một) khẩu súng nén hơi, 01 (một) túi vải đựng súng, 06 (sáu) viên đạn chì. Sau đó, C mang súng, đạn về phòng trọ cất giấu. Khoảng cuối tháng 01/2025, C mang khẩu súng và 06 viên đạn trên đến khu vực núi (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai) để bắn chim, C đã bắn 05 (năm) viên đạn nhưng không trúng; còn lại 01 (một) viên đạn, C mang về phòng trọ cất giấu cùng khẩu súng. Đến tháng 03/2025, C đến nghĩa trang Bùi Thị X (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai) để lấy bánh, trái cây mà người dân cúng ở các phần mộ. Khi đến khu vực tượng Đ, C thấy 01 (một) túi ni lông màu đen nằm dưới gốc cây nên mở ra xem, thì phát hiện bên trong có chứa 605 (sáu trăm lẻ năm) viên đạn chì và 39 (ba mươi chín) viên đạn cỡ (5,6x15,5) mm; C mang số đạn này về phòng trọ cất giấu cùng với số súng, đạn đã mua với mục đích để bắn chim. Ngày 12/6/2025, lực lượng công an kiểm tra hành chính về cư trú tại phòng trọ của C phát hiện và thu giữ toàn bộ số súng, đạn trên. * Tại Kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận đối với số súng, đạn nêu trên:
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu xanh xám, tổng chiều dài 108,3cm; tay cầm, ốp lót tay bằng gỗ màu nâu; thân súng có các chữ, số “AIRFORCE $2305 Made in USA” có 01 (một) ống ngắm màu đen, chiều dài 33cm; nòng súng bằng kim loại, phía trước nòng có gắn ống giảm thanh hình trụ tròn, màu đen dài 25,5cm, đường kính 3,9cm; phía sau thân súng có gắn bộ phận nén hơi, trên thân bình chứa hơi có các chữ “PAPAK A” là súng nén hơi, hiện tại khẩu súng này còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1. Trên khẩu súng nêu trên không phát hiện thấy ký tự đóng chìm.
- 39 (ba mươi chín) viên đạn dài 2,4cm, phần thân vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám, là đạn cỡ (5,6 x 15,5) mm, hiện tại còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1.
- 605 (sáu trăm lẻ năm) viên đạn chì và 01 (một) viên đạn chì kèm theo khẩu súng nêu trên đều có đường kính 0,5cm là đạn sử dụng cho loại súng nén hơi, hiện tại còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1. * Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) khẩu súng và 645 (sáu trăm bốn lăm) viên đạn như đã nêu trên. Hiện đang bảo quản tại Kho vũ khí-đạn 1 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh G. Bản Cáo trạng số 70/CT – VKSGL-P1 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố Vi Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Vi Quốc C có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vào 12/6/2025, lực lượng công an kiểm tra hành chính về cư trú tại phòng trọ của C tại E Â, phường Q, tỉnh Gia Lai đã phát hiện và thu giữ 01 (một) khẩu súng và 645 (sáu trăm bốn lăm) viên đạn do bị cáo cất giấu với mục đích để bắn chim. Hành vi của Vi Quốc C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng; đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo”, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu hủy toàn bộ vật chứng theo quy định. Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào tháng 01/2025, tại khu vực Đèo Long M (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai), Vi Quốc C mua 01 (một) khẩu súng nén hơi và 06 (sáu) viên đạn chì của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) để săn bắn chim; C đã sử dụng 05 (năm) viên đạn trong số đạn trên để bắn chim nhưng không trúng. Đến tháng 3/2025, tại khu vực nghĩa trang B (thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai), Vi Quốc C nhặt được một túi ni lông, bên trong có chứa 605 (sáu trăm lẻ năm) viên đạn chì và 39 (ba mươi chín) viên đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm; C đem số đạn này về phòng trọ (địa chỉ E Â, phường Q, tỉnh Gia Lai) cất giấu cùng với số súng đạn đã mua được với mục đích để bắn chim. Ngày 12/6/2025, lực lượng công an kiểm tra hành chính về cư trú tại phòng trọ của C phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật. Tại Kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận đối với số súng, đạn nêu trên:
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu xanh xám, tổng chiều dài 108,3cm; tay cầm, ốp lót tay bằng gỗ màu nâu; thân súng có các chữ, số “AIRFORCE $2305 Made in USA” có 01 (một) ống ngắm màu đen, chiều dài 33cm; nòng súng bằng kim loại, phía trước nòng có gắn ống giảm thanh hình trụ tròn, màu đen dài 25,5cm, đường kính 3,9cm; phía sau thân súng có gắn bộ phận nén hơi, trên thân bình chứa hơi có các chữ “PAPAK A” là súng nén hơi, hiện tại khẩu súng này còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1. Trên khẩu súng nêu trên không phát hiện thấy ký tự đóng chìm.
- 39 (ba mươi chín) viên đạn dài 2,4cm, phần thân vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám, là đạn cỡ (5,6 x 15,5) mm, hiện tại còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1.
- 605 (sáu trăm lẻ năm) viên đạn chì và 01 (một) viên đạn chì kèm theo khẩu súng nêu trên đều có đường kính 0,5cm là đạn sử dụng cho loại súng nén hơi, hiện tại còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: hành vi của bị cáo Vi Quốc C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 BLHS như Cáo trạng mà VKSND tỉnh Gia Lai đã truy tố. [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với vũ khi quân dụng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân bị cáo bị Cơ quan Công an phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là Công an phường Q, tỉnh Gia Lai) xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày, UBND phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là UBND phường Q, tỉnh Gia Lai) ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng chất ma túy trong thời hạn 01 năm. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, xét bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải nên đây là tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp vừa để bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, vừa đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. [4] Về vật chứng: tiếp tục giao toàn bộ vật chứng còn lại sau giám định cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu hủy theo quy định. [5] Vấn đề khác:
- Vi Quốc C khai nhận: Khoảng cuối tháng 01/2025, C đem khẩu súng, đạn đã mua của người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực Đèo Long M đến khu vực núi thuộc phường Q Tây để bắn chim và đã bắn 05 viên đạn nhưng không trúng, chưa gây ra hậu quả gì. C không nhớ vị trí chính xác khi bắn, cũng không có ai khác chứng kiến. Ngoài lời khai duy nhất của C không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định hành vi sử dụng súng, đạn nêu trên của C. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý về hành vi sử dụng vũ khí quân dụng của C là phù hợp.
- Vi Quốc C khai nhận: Năm 2020, C có mua 01 (một) khẩu súng của một người không rõ lai lịch để bắn chim nhưng không sử dụng được nên C đã vứt bỏ khẩu súng này. C không nhớ mua của ai, mua ở đâu và vứt bỏ khẩu súng ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra, làm rõ.
- Đối tượng đã bán cho Vi Quốc C 01 khẩu súng và 06 viên đạn: C khai gặp người này tại đoạn đường Đ, thuộc phường Q, tỉnh Gia Lai, tuy nhiên không biết rõ nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý. [6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND khu vực 1 –Gia Lai phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Quốc C 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2025. 3. Về vật chứng: giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu hủy theo quy định các vật chứng sau:
- 01 (một) khẩu súng nén hơi bằng kim loại, màu xanh xám, tổng chiều dài 108,3cm; tay cầm, ốp lót tay bằng gỗ màu nâu; thân súng có các chữ, số "AIRFORCE $2305 Made in USA" có 01 (một) ống ngắm màu đen, chiều dài 33cm; nòng súng bằng kim loại, phía trước nòng có gắn ống giảm thanh hình trụ tròn, màu đen dài 25,5cm, đường kính 3,9cm; phía sau thân súng có gắn bộ phận nén hơi, trên thân bình chứa hơi có các chữ "PAPAK A"; thuộc “Danh mục vũ khí quân dụng".
- 36 (ba mươi sáu) viên đạn dài 2,4cm, phần thân vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám, là đạn cỡ (5,6 x 15,5) mm; thuộc “Danh mục vũ khí quân dụng".
- 602 (sáu trăm lẻ hai) đạn chì, có đường kính 0,5cm; thuộc “Danh mục vũ khí quân dụng”. Tất cả được niêm phong bên trong bao tải dán kín miệng bao bằng băng keo giấy, đóng giáp lai hình dấu của Phân Viện Khoa học hình sự tại TP ., cùng các chữ ký, chữ viết họ tên: Hoàng Thị Thúy H, Đinh Ngọc D1. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 27/11/2025 tại Đại đội Kho vũ khí-đạn 1 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh G). 4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST. 5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2026); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 1 – Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 1 – Gia Lai; - CQ CSĐT CA tỉnh Gia Lai; - CQ THAHS CA tỉnh Gia Lai; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Văn Thị Minh Hoà |