vanban.org

Bản án 21/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Khánh D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 02/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khánh D phạm tội cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS - cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6-VL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-ST
Ngày: 02-4-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim H.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đoàn Văn V.

- Ông Nguyễn Văn H

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Th - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - VL

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - VL tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - VL, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Khánh D (không có tên gọi khác), sinh ngày 17/05/2004, tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh VL); Nơi cư trú: 352/64 ấp NP, xã CL, tỉnh VL; Số CCCD: 083204001903 cấp ngày 24/10/2024; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam

Con ông Nguyễn Văn Nguyên và bà Huỳnh Ngọc Bích.

Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai anh em.

Bị cáo chưa có vợ và con.

Tiền án, tiền sự : không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2025, đến ngày 03/10/2025 chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Võ Thị Diễm M, sinh năm 1998; Nơi thường trú: ấp TB, xã TLT, thành phố CT; Nơi tạm trú: ấp Sơn Long, xã PP, tỉnh VL. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 352/64 ấp NP, xã CL, tỉnh VL. Có mặt.

* Người làm chứng: Nguyễn Quốc Nh, sinh năm 1997; Nơi thường trú: ấp Phú Thuận 1, xã An Bình, tỉnh VL; Nơi tạm trú: ấp Sơn Long, xã PP, tỉnh VL. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 01 tháng 10 năm 2025, Nguyễn Khánh D điều khiển xe mô tô biển số: 71C4-485.21 lưu thông trên Quốc lộ 57 theo hướng từ xã CL đi xã PP, tỉnh VL. Khi đi ngang qua quán Cà phê “Đam Mê” thuộc ấp Sơn Long, xã PP, tỉnh VL, D nhìn thấy chị Võ Thị Diễm M, sinh năm 1998, cư trú: ấp TB, xã TLT, Thành Phố CT là chủ quán Cà phê “Đam Mê” đang ngồi một mình phía trước cửa quán nên D nảy sinh ý định cướp tài sản của M để tiêu xài cá nhân. Lúc này, D điều khiển xe vòng lại gặp chị M đặt vấn đề mua dâm, M đồng ý nên D điều khiển xe vào bên trong quán, M đóng cửa quán lại và đi vào bên trong phòng thì D đi theo, vừa đi D vừa dùng tay phải lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra một con dao bấm, bấm lưỡi dao ra đưa lên cổ M để đe dọa và buộc M đưa tiền. Do bị khống chế nên M đã lấy từ trong túi quần của mình đang mặc ra đưa cho D số tiền 1.300.000 đồng. Sau khi lấy được tiền, D tiếp tục nảy sinh ý định và yêu cầu M cho quan hệ tình dục. Do nhìn thấy D đang còn cầm dao trên tay nên M miễn cưỡng cho D quan hệ tình dục một lần. Sau khi quan hệ tình dục xong, M đi vào nhà vệ sinh bên trong quán đóng, khóa cửa lại rồi dùng điện thoại gọi và nhắn tin thông báo cho bạn là Nguyễn Quốc Nh, sinh năm 1997, tạm trú: ấp Sơn Long, xã PP, tỉnh VL biết việc M vừa bị cướp tài sản, đối tượng còn đang ở trong quán của mình. Cùng lúc này thì D cũng lấy ra số tiền 500.000 đồng trong số tiền vừa cướp được của M để lại trên bàn cho M, rồi tự mở cửa quán để ra về. Trong lúc D đang dẫn xe ra về thì bị anh Nh đến phát hiện, xông vào dùng tay khống chế D trước cửa quán rồi truy hô và M nhờ người dân gần đó điện thoại báo tin cho Công an xã PP, tỉnh VL đến lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục số 244/KLXHTD-TTPYVL ngày 14/10/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh VL đã kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương lòng bàn tay trái kích thước nhỏ.

- Màng trinh hình vành khăn. Vị trí 03 giờ, 07 giờ, 09 giờ có vết rách cũ đến chân màng trinh.

- Khẩu kính lỗ màng trinh 03 cm.

- Soi tìm tinh trùng: tìm không thấy tinh trùng.

2. Kết luận:

- Màng trinh hình vành khăn. Vị trí 03 giờ, 07 giờ, 09 giờ có vết rách cũ đến chân màng trinh.

- Khẩu kính lỗ màng trinh 03cm.

- Trong dịch âm đạo của Võ Thị Diểm M tìm không thấy tinh trùng.

- Vết thương lòng bàn tay trái kích thước nhỏ: 01% Căn cứ Chương 8, Mục I.1.

- Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị Diễm M tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Cơ chế hình thành vết thương của Võ Thị Diễm M do vật sắc nhọn gây ra.

(Bút lục số:161-165).

Tại kết luận giám định số 243/KL-KTHS-KV3 ngày 31/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VL, kết luận: Dao bấm bằng kim loại dài 22,5cm, phần cán bằng kim loại dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10cm, nơi rộng nhất lưỡi dao 2,8cm, có một cạnh sắc và mũi nhọn, có bộ phận gấp, bấm lại được là Dao gấp, dao bấm thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” được quy định trong Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (bút lục số:173,174).

Vật chứng, đồ vật thu giữ và xử lý:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL đã xử lý:

+ Trả cho bị hại Võ Thị Diễm M tiền Việt nam là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm ngàn đồng).

+ Trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Văn Nguyên 01 (một) chiếc xe mô tô biển số: 71C4-485.21, hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, số khung: RLHJC7652M8473, số máy: JC90E0207461.

+ Trả cho bị can Nguyễn Khánh D do người quản lý hợp pháp là ông Nguyễn Văn Nguyên (cha của bị cáo) đại diện nhận: 01 (một) điện thoại di động hiệu TECNO CANON 20 Pro, kiểu máy TECNO CK7n, màu đen, số sêri: 10767253AK003467, số IMEI 1: 3527123732775647, số IMEI 2: 3527123732775654; 01 (một) cái ví (bóp) da màu nâu, mặt ngoài có dòng chữ “C1vm Kevn Fashio Style”; tiền Việt Nam 140.000 đồng.

- Tiếp tục chuyển theo vụ án để xử lý gồm:

+ 01 (một) con dao loại dao bấm bằng kim loại dài 22,5cm; phần cán bằng kim loại màu đen dài 12,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn.

+ 01 (một) áo khoác vải màu đen, dài tay, mặt trước và mặt sau có dòng chữ “adidas”.

+ 01 (một) túi đeo bằng vải, màu nâu, kích thước 30x18x10 cm, mặc trước có chữ “JINGPIN”, trình trạng: đứt một quai đeo.

+ 01 (một) cuộn băng keo, loại băng keo trong.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Khánh D đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Võ Thị Diễm M tổng số tiền là 40.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Khánh D và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh D từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt tạm giữ ngày 02/10/2025.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL đã xử lý:

+ Trả cho bị hại Võ Thị Diễm M tiền Việt nam là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm ngàn đồng).

+ Trả cho ông Nguyễn Văn Nguyên là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô biển số: 71C4-485.21, hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, số khung: RLHJC7652M8473, số máy: JC90E0207461 và trả 01(một) điện thoại di động hiệu TECNO CANON 20 Pro, kiểu máy TECNO CK7n, màu đen, số sêri: 10767253AK003467, số IMEI 1: 3527123732775647, số IMEI 2: 3527123732775654; 01(một) cái ví (bóp) da màu nâu, mặt ngoài có dòng chữ " C1vm Kevn Fashio Style"; Tiền Việt Nam 140.000 đồng là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và tài sản của bị cáo nhưng không còn giá trị sử dụng dưới đây, đồng thời bị cáo không có nhu cầu nhận lại.

+ 01 (một) con dao loại dao bấm bằng kim loại dài 22,5cm; phần cán bằng kim loại màu đen dài 12,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn.

+ 01 (một) túi đeo bằng vải, màu nâu, kích thước 30x18x10 cm, mặc trước có chữ “JINGPIN”, trình trạng: đứt một quai đeo.

+ 01 (một) cuộn băng keo, loại băng keo trong.

- Trả cho bị cáo: 01 (một) áo khoác vải màu đen, dài tay, mặc trước và mặc sau có dòng chữ “adidas”.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo Nguyễn Khánh D đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Võ Thị Diễm M tổng số tiền là 40.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Khánh D chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Khánh D thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã xác định và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - VL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều khoản áp dụng:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 01/10/2025, Nguyễn Khánh D điều khiển xe mô tô lưu thông trên Quốc lộ 57 theo hướng từ xã CL đi xã PP, tỉnh VL. Khi đi ngang qua quán cà phê “Đam Mê” của chị Võ Thị Diễm M tại xã PP thì D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. D quay xe lại, giả vờ hỏi mua dâm để vào bên trong quán. Khi chị M đóng cửa và đi vào phòng, D đi theo, lấy dao bấm kề vào cổ chị M đe dọa, buộc chị M phải đưa tiền. Do bị khống chế, chị M đã lấy tiền trong túi quần đang mặc và giao cho D 1.300.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền, D tiếp tục dùng dao uy hiếp, cưỡng ép chị M cho quan hệ tình dục. Sau khi sự việc xong, chị M vào nhà vệ sinh khóa cửa, dùng điện thoại gọi và nhắn tin cho bạn là Nguyễn Quốc Nh để báo tin. Trong lúc này, D lấy 500.000 đồng trong số tiền vừa chiếm đoạt để lại trên bàn rồi mở cửa quán ra về. Khi D đang dẫn xe rời khỏi quán thì bị anh Nh đến phát hiện, khống chế và cùng người dân bắt giữ, giao D cho Công an xã PP xử lý theo quy định pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Khánh D là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo D là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã lợi dụng việc vào quán cà phê của chị Võ Thị Diễm M, sau đó sử dụng dao bấm là hung khí nguy hiểm kề vào cổ bị hại để đe dọa, buộc bị hại phải giao số tiền đang giữ trong người là 1.300.000 đồng. Đây là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ. Sau khi bị hại giao tiền, bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này và bỏ vào túi quần của bị cáo, thể hiện ý thức chiếm đoạt rõ ràng. Do đó, có đủ cơ sở xác định hành vi của Nguyễn Khánh D đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - VL truy tố đối với bị cáo Nguyễn Khánh D là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có thể áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã được quy định đối với tội danh mà bị cáo bị truy tố, nhưng cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm phòng ngừa trong xã hội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cao do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL đã xử lý:

+ Trả cho bị hại Võ Thị Diễm M tiền Việt nam là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm ngàn đồng).

+ Trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Văn Nguyên 01 (một) chiếc xe mô tô biển số: 71C4-485.21, hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, số khung: RLHJC7652M8473, số máy: JC90E0207461.

+ Trả cho bị cáo Nguyễn Khánh D do người quản lý hợp pháp là ông Nguyễn Văn Nguyên (cha của bị cáo) đại diện nhận: 01 (một) điện thoại di động hiệu TECNO CANON 20 Pro, kiểu máy TECNO CK7n, màu đen, số sêri: 10767253AK003467, số IMEI 1: 3527123732775647, số IMEI 3527123732775654; 01 (một) cái ví (bóp) da màu nâu, mặt ngoài có dòng chữ “C1vm Kevn Fashio Style”; tiền Việt Nam 140.000 đồng.

- Đối với vật chứng được chuyển theo vụ án:

+ 01 (một) áo khoác vải màu đen, dài tay, mặt trước và mặt sau có dòng chữ “adidas”, bị cáo không dùng vào việc phạm tội và tại phiên tòa bị cáo xin nhận lại nên trả lại cho bị cáo.

+ 01 (một) con dao loại dao bấm bằng kim loại dài 22,5cm; phần cán bằng kim loại màu đen dài 12,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn; 01 (một) túi đeo bằng vải, màu nâu, kích thước 30x18x10 cm, mặc trước có chữ “JINGPIN”, trình trạng: đứt một quai đeo; 01 (một) cuộn băng keo, loại băng keo trong, do bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Khánh D đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Võ Thị Diễm M tổng số tiền là 40.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt và các đề nghị khác phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với tội “Hiếp dâm” được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự, ngày 01/12/2025 bị hại Võ Thị Diễm M có đơn tự nguyện xin rút đơn yêu cầu khởi tố. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL căn cứ khoản 2 Điều 155 và điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật tố Tụng hình sự đã ra Quyết định số: B4531 và số: B4532 ngày 10/12/2025 đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra Nguyễn Khánh D đối với tội “Hiếp dâm” là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối con dao bấm mà bị cáo Nguyễn Khánh D đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua giám định là dao gấp, dao bấm thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao”. Quá trình điều tra đã xác định bị cáo Nguyễn Khánh D chỉ sử dụng dao để đe dọa bị hại Võ Thị Diễm M nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản chứ không nhằm mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe của bị hại; vết thương ở lòng bàn tay trái của bị hại có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể qua giám định là 01%, do bị hại vô ý quơ tay trúng mũi dao chứ không phải do bị cáo tấn công gây ra. Do đó, hành vi của Nguyễn Khánh D không cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 71C4-485.21 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Nguyên là cha ruột bị cáo Nguyễn Khánh D, việc D tự ý lấy xe dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp tài sản, ông Nguyên không biết nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Khánh D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Khánh D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tính từ ngày 02/10/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL đã xử lý:

+ Trả cho bị hại Võ Thị Diễm M tiền Việt Nam là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm ngàn đồng).

+ Trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Văn Ng 01 (một) chiếc xe mô tô biển số: 71C4-485.21, hiệu Honda, loại Future, màu xanh đen, số khung: RLHJC7652M8473, số máy: JC90E0207461.

+ Trả cho bị cáo Nguyễn Khánh D do người quản lý hợp pháp là ông Nguyễn Văn Nguyên (cha của bị cáo) đại diện nhận: 01 (một) điện thoại di động hiệu TECNO CANON 20 Pro, kiểu máy TECNO CK7n, màu đen, số sêri: 10767253AK003467, số IMEI 1: 3527123732775647, số IMEI 2: 3527123732775654; 01 (một) cái ví (bóp) da màu nâu, mặt ngoài có dòng chữ “C1vm Kevn Fashio Style”; tiền Việt Nam 140.000 đồng.

- Trả cho bị cáo 01 (một) áo khoác vải màu đen, dài tay, mặt trước và mặt sau có dòng chữ “adidas”.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao loại dao bấm bằng kim loại dài 22,5cm; phần cán bằng kim loại màu đen dài 12,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn; 01 (một) túi đeo bằng vải, màu nâu, kích thước 30x18x10 cm, mặc chữ trước có chữ “JINGPIN”, trình trạng: đứt một quai đeo; 01 (một) cuộn băng keo, loại băng keo trong.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Khánh D đã tác động gia đình bồi hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Võ Thị Diễm M tổng số tiền là 40.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Khánh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ vào các điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/4/2026). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/4/2026). Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - VL được quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VL có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ