- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Kỷ N cùng đồng phạm - làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Lu…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2026/HS-ST Ngày 28-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Thái
Bà Trần Thế Yên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh – Thƣ ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST- HS ngày 04-3-2026 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 04 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Hà Kỷ N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1979 tại tỉnh Yên Bái; Nơi cƣ trú: Thôn S, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn S, xã L, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 015179000513; Con ông Hà Huy T (đã chết) và con bà Hà Thị T1, sinh năm 1951 hiện trú tại thôn S, xã L, tỉnh Lào Cai; Chồng: Hoàng Văn S, sinh năm 1966; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại thôn S, xã L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. Nguyễn Ngọc H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 27 tháng 10 năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh; ĐKHKTT: số D, đƣờng N, phƣờng B, thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: C05.12 Chung cƣ C, số A V, phƣờng A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 080193000125; Con ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1965 và con bà Lê Thị L, sinh năm 1964 hiện đều trú tại C Chung cƣ C, số A V, phƣờng A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Chồng: Phạm Ngọc T2, sinh năm 1988; Con: 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh L. Có mặt.
3. Hồ Tuấn K (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 9 năm 2000 tại tỉnh Long An; ĐKHKTT: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã C, tỉnh Tây Ninh); Nơi ở: C05.12 Chung cƣ C, số A V, phƣờng A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 080200011580; Con ông Hồ Thoại S1, sinh năm 1970 và con bà Lê Thị T3, sinh năm 1968 hiện đều trú tại Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã C, tỉnh Tây Ninh); Vợ, con: Chƣa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh L. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Trần Quốc T4, sinh năm 1981; trú tại thôn K, xã L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Triệu Thị T5, sinh năm 1988; trú tại: Thôn B, xã L, tỉnhh Lào Cai.
+Triệu Thị N1, sinh năm 1982; trú tại: Thôn K, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Trần Thị L1, sinh năm 1989; trú tại: Thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Triệu Thị K1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Tô Thị T6, sinh năm 1993; trú tại: Thôn K, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Lý Thị L2, sinh năm 1990; trú tại: Thôn K, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Trịnh Thị Â, sinh năm 1994; trú tại: Thôn K, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Hoàng Thị H2, sinh năm 1988; trú tại: Thôn T, xã L, tỉnh Lào Cai.
+ Nguyễn Minh H1, sinh năm 1965; trú tại: C Chung cƣ C, số A V, phƣờng A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Lâm Minh L3, sinh năm 1982; trú tại: Xã B, tỉnh Tây Ninh.
+ Tạ Thị H3, sinh năm 1993; trú tại: Xóm H, xã Y, tỉnh Nghệ An.
+ Phạm Văn B, sinh năm 1988; trú tại: Xóm H, xã Y, tỉnh Nghệ An.
+ Nguyễn Văn B1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã H, tỉnh Hƣng Yên.
+ Nguyễn Duy T7, sinh năm 1996; trú tại khu phố P, phƣờng P, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Hoàng Văn T8, sinh năm 1988; trú tại tổ H, phƣờng P, tỉnh Hà Nam.
+ Nguyễn Xuân T9, sinh năm 1996; trú tại thôn B, xã T, tỉnh Tuyên Quang.
(Tất cả những ngƣời làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 28/5/2025 tổ công tác Phòng C1 Công an tỉnh Y (nay là tỉnh Lào Cai) đang làm nhiệm vụ tại khu vực Bƣu điện văn hóa xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai) phát hiện một ngƣời nữ giới có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra xác định ngƣời nữ giới là Hà Kỷ N. Hà Kỷ N tự giác giao nộp 01 túi nilon màu hồng, trên mặt có dán giấy, ghi thông tin ngƣời gửi là Ly Mí H4 - S, mã vận đơn EC710742642VN, thông tin ngƣời nhận là Hà Kỷ N, thôn S, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn S, xã L, tỉnh Lào Cai), bên trong túi có 01 hộp bìa cát tông. Tiến hành kiểm tra hộp bìa cát tông phát hiện 07 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh và 7 chứng chỉ Ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản đề tên trƣờng Đại học S2 cấp cho Tô Thị T6, Lý Thị L2, Trần Thị L1, Triệu Thị T5, Triệu Thị K1, Trịnh Thị Â, Hoàng Thị H2; 01 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh đề tên trƣờng Đại học S2 cấp cho Triệu Thị N1 và 45 (bốn mƣơi lăm) bản phô tô trên góc có ghi chữ “BẢN SAO” và chữ ký, họ tên của Nguyễn Hoài N2 và có dấu tròn đỏ của văn phòng C2.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh, 01 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản, 01 chứng chỉ nghiệp vụ quản lý giáo dục, 01 chứng chỉ số 12/QĐ7272.18.CDNNMN3 đều đề tên Trƣờng Đại học S2 cấp cho Hà Kỷ N; 02 bản phô tô trên góc có ghi chữ “BẢN SAO”, trên mỗi tờ giấy phô tô có chữ ký, họ tên của Vƣơng Thị Bích T10 và có dấu tròn đỏ của Văn phòng Công chứng quận H, Hà Nội; 01 bản phô tô có ghi chữ “CHỨNG THỰC BẢN SAO ĐÚNG VỚI BẢN CHÍNH”, trên tờ giấy phô tô có chữ ký, họ tên của Âu Văn T11 và có hình dấu tròn đỏ của Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái; 01 bản phô tô có ghi chữ “CHỨNG THỰC BẢN SAO ĐÚNG VỚI BẢN CHÍNH”, trên mỗi tờ giấy phô tô có chữ ký, họ tên của Nông Thanh T12 và có hình dấu tròn đỏ của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Tại cơ quan điều tra, Hà Kỷ N khai nhận: Năm 2021 do có nhu cầu sử dụng chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và chứng chỉ ngoại ngữ mà không cần tham gia học để hoàn thiện hồ sơ cán bộ, Hà Kỷ N đã lên mạng xã hội tìm và đặt mua 01 chứng chỉ ngoại ngữ cấp ngày 25/7/2020 và 01 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản ngày cấp 12/11/2020 mang tên Hà Kỷ N qua tài khoản zalo “Chƣơng làm CCql nhanh”. Ngƣời này báo giá 2 chứng chỉ là 5.000.000 đồng, N đồng ý. Khoảng 1 tuần sau thì N nhận đƣợc các chứng chỉ giả để trong 1 hộp bìa catton đƣợc một nam thanh niên ship đến tận nhà. N đƣa cho ngƣời shipper này 5.000.000 đồng. Ngoài ra, Nguyên khai học trực tuyến lớp Đào tạo Chứng chỉ nghiệp vụ quản lý giáo dục qua trang Web của trƣờng Đại học S2 trong khoảng tháng 6/2021 đến tháng 7/2021. Nguyên đã chuyển học phí là 1.000.000 đồng cho tài khoản 11799597 mở tại ngân hàng A. Sau khi nhận các chứng chỉ này N đã sử dụng 01 bản sao chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin; 01 bản sao chứng chỉ ngoại ngữ và 01 bản sao chứng chỉ quản lý giáo dục nộp vào hồ sơ bổ nhiệm phó hiệu trƣởng trƣờng tiểu học và THCS xã T, huyện L năm 2021 và đã đƣợc bổ nhiệm. Đồng thời N còn liệt kê chứng chỉ để làm minh chứng trong bản đánh giá chuẩn giáo viên hàng năm (03 năm học 2022-2025).
Khoảng cuối năm 2022, N còn đặt mua hộ cho Trần Quốc T4, (giáo viên cùng trƣờng với N) 01 chứng chỉ ngoại ngữ và 01 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản qua tài khoản zalo “Chƣơng làm CCql nhanh”. T4 bảo N thời điểm cấp các chứng chỉ là khoảng tháng 11/2022. Sau đó N báo giá cho T4 là 5.000.000 đồng. Nguyên nói chỉ đặt hộ T4, T4 tự trả tiền, T4 đồng ý. Khoảng 7 ngày sau, khi T4 đang ở nhà thì có một nam thanh niên làm shipper đến nhà giao cho T4 1 gói hàng bên trong có 02 chứng chỉ giả. T4 đƣa tiền mặt cho shipper này 5.000.000 đồng. Sau khi nhận đƣợc các chứng chỉ, T4 nộp 02 chứng chỉ này vào hồ sơ cán bộ ở trƣờng tiểu học và THCS xã T, huyện L. Đồng thời T4 còn liệt kê chứng chỉ để làm minh chứng trong bản đánh giá chuẩn giáo viên hàng năm (02 năm học 2023-2025).
Đến khoảng tháng 5/2025, do biết các giáo viên ở trƣờng có nhu cầu mua các chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và chứng chỉ ngoại ngữ mà không phải tham gia học. Hà Kỷ N này sinh ý định đặt làm các chứng chỉ cho các giáo viên để hƣởng tiền chênh lệch.
Ngày 17/5/2025, Hà Kỷ N đã nhận làm 15 chứng chỉ giả của Trƣờng Đại học S2 cho Trần Thị L1, Hoàng Thị H2, Trịnh Thị Â, Lý Thị L2, Tô Thị T6, Triệu Thị K1 và Triệu Thị N1 với giá tiền là 2.000.000 đồng/01 chứng chỉ giả.
Sau đó, Hà Kỷ N đã sử dụng tài khoản Z với tên hiển thị “NguyênHk” của mình nhắn tin với ngƣời sử dụng tài khoản Zalo với tên hiển thị “Chƣơng làm CCql nhanh” đặt làm 07 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản giả và 07 chứng chỉ tiếng Anh giả cho Trần Thị L1, Hoàng Thị H2, Trịnh Thị Â, Lý Thị L2, Tô Thị T6, Triệu Thị K1, Triệu Thị T5 và đặt làm cho Triệu Thị N1 một chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh giả với giá là 1.000.000 đồng/01 chứng chỉ ứng dụng thông tin cơ bản giả và 1.500.000 đồng/01 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh giả. Ngày 18/5/2025, Hà Kỷ N gửi danh sách các chứng chỉ giả cho ngƣời sử dụng tài khoản Zalo với tên hiển thị “Chƣơng làm CCql nhanh”. Sau đó, Hà Kỷ N đã nhận tiền làm chứng chỉ giả của Trần Thị L1, Hoàng Thị H2, Trịnh Thị Â, Lý Thị L2, Tô Thị T6, Triệu Thị K1 và Triệu Thị N1 với tổng số tiền là 26.000.000 đồng (riêng Hoàng Thị H2 chƣa đƣa tiền cho N). Ngày 20/5/2025, Hà Kỷ N chuyển số tiền 19.000.000 đồng là tiền làm chứng chỉ giả đến tài khoản ngân hàng V số 073172523 mang tên DO DONG HA do ngƣời có tài khoản Z với tên hiển thị “C làm CCql nhanh” cung cấp. Ngày 28/5/2025, khi Hà Kỷ N đang lấy các chứng chỉ giả tại bƣu điện M, xã L, tỉnh Lào Cai do ngƣời gửi đề tên là “LY MÍ HỜ - Shop Mí” gửi đến qua đƣờng bƣu điện theo mã vận đơn EC710742642VN thì bị phòng C1, Công an tỉnh L kiểm tra và lập biên bản.
Ngày 29/5/2025, Trần Quốc T4 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và 01 chứng chỉ ngoại ngữ đề tên trƣờng Đại học S2 cấp cho Trần Quốc T4 vào năm 2022.
Mở rộng điều tra, xác định: Khoảng cuối tháng 4/2025, Hồ Tuấn K tìm kiếm việc làm trên mạng Internet qua ứng dụng Telegram. K đã sử dụng tài khoản Telegram tên hiển thị "Phết" tìm kiếm việc làm trên mạng Internet và đƣợc tài khoản T13 "Long Ka" nhận vào làm. Tài khoản T13 "L" rủ K làm giấy tờ giả và đƣợc K đồng ý. Theo yêu cầu của tài khoản T13 "Long Ka" cần tìm ngƣời làm giấy tờ giả cùng thì K đã rủ chị họ là Nguyễn Ngọc H cùng tham gia làm giấy tờ giả. Theo yêu cầu của tài khoản T13 "L", H đã thuê căn hộ C5.12, chung cƣ C đƣờng V, thành phố Hồ Chí Minh để làm nơi ở và làm giấy tờ giả. Sau đó tài khoản T13 "Long Ka" đã chuyển cho K và H 01 bộ máy tính, 01 máy ép plastic, 01 máy in màu, 01 máy phô tô, một thùng chứa phôi và tem giấy phép lái xe giả, để làm giấy tờ giả. Tuy nhiên do chƣa kịp hƣớng dẫn K và H làm giấy tờ giả nên khoảng giữa tháng 5/2025, tài khoản T13 "Long Ka" yêu cầu K và H đóng gói các văn bằng, chứng chỉ giả và chuyển đến các địa điểm nhận theo chỉ dẫn của tài khoản T13 "L". Tài khoản T13 “Long K2” giới thiệu và để K nói chuyện với tài khoản Telegram “Phạm Ngọc H5” (là ngƣời gửi các chứng chỉ giả cho K để đóng gói) và tài khoản T13 “Boss-Limit” (là ngƣời gửi địa chỉ nơi nhận các chứng chỉ giả, sau khi Kiệt đóng gói sẽ bảo Hân chuyển các chứng chỉ giả đến địa chỉ theo yêu cầu của ngƣời này).
Tối ngày 22/5/2025, Kiệt đã đi ra đƣờng An Dƣơng Vƣơng nhận từ một ngƣời không quen biết các bọc túi nilon mà tài khoản Telegram "Phạm Ngọc Hải" gửi đến bên trong có chứa các văn bằng, chứng chỉ giả rồi mang về phòng C05.12 tòa nhà Carina. Khi về đến phòng C05.12 thì Kiệt đã mở các bọc túi nilon ra thấy bên trong có nhiều văn bằng, chứng chỉ giả đã đƣợc dán mã số. Kiệt lấy các chứng chỉ có cùng mã số cho vào một hộp catton và để áo si lên, sau đó bọc nilon màu hồng bên ngoài rồi lấy bút lông xanh viết tên ngƣời gửi là "LY MÍ HỜ - SHOP MÍ", thông tin địa chỉ ngƣời nhận hàng và viết mã số lên bên ngoài túi nilon. Kiệt đóng đƣợc 53 gói hàng cho vào 03 túi nilon màu trắng.
Sáng ngày 23/5/2025, Kiệt bảo Hân gọi ngƣời đi gửi các túi nilon này bên trong có các giấy tờ giả. Hân đã gọi ứng dụng "Ahamove" để thuê ngƣời giao hàng và đặt giao hàng đến địa chỉ là bƣu cục quận 7, bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn, số 1441 đƣờng Huỳnh Tấn Phát, phƣờng Phú Mỹ, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh và cho số điện thoại 0938.907.911 của bố đẻ là ông Nguyễn Minh Hùng để ngƣời giao hàng của ứng dụng "Ahamove" liên lạc và nhận hàng. Hân đã cầm 03 túi nilon trắng mà Kiệt đã đóng gói tối ngày 22/5/2025 bên trong có chứa các giấy tờ giả đƣa cho ông Nguyễn Minh Hùng và bảo ông Hùng là có ngƣời giao hàng liên hệ thì ra đƣa cho ngƣời giao hàng. Sau đó, anh Lâm Minh Liêm là ngƣời giao hàng của ứng dụng "Ahamove" đã liên lạc với Nguyễn Minh Hùng để nhận hàng và đi giao hàng. Hùng đã mang 03 túi nilon màu trắng mà Hân đã đƣa cho và giao cho Liêm. Liêm đã mang 03 túi nilon này đến bƣu cục quận 7 và giao hàng cho nhân viên bƣu cục vào hồi 08 giờ 26 phút. Bƣu cục quận 7, bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn đã kiểm đếm tổng cộng có 53 đơn hàng từ ngƣời gửi là " LY MÍ HỜ - Shop Mí" là ngƣời gửi online qua ứng dụng "My Vietnam Post Plus". Bƣu cục quận 7 đã chuyển đến 53 địa chỉ theo yêu cầu của ngƣời gửi là "LY MÍ HỜ - Shop Mí" trong đó có đơn hàng có mã bƣu gửi là: EC710743642VN gửi đến cho Hà Kỷ Nguyên.
Từ khi đƣợc đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” thuê đến khi Hân và Kiệt bị cơ quan Công an bắt, Hân đã đƣợc đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” chuyển số tiền 13.300.000 đồng là tiền lƣơng, trong đó Hân đƣợc nhận 7.000.000 đồng, Kiệt đƣợc nhận 6.300.000 đồng, tuy nhiên Hân mới chỉ nói cho Kiệt còn Kiệt chƣa nhận đƣợc tiền. Hân đã chuyển toàn bộ 13.300.000 đồng cho Ngô Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1997, trú tại số 163, ấp 5, xã Cần Đƣớc, tỉnh Tây Ninh (em họ của Hân) nhờ Trâm đổi ra tiền mặt (Trâm không biết số tiền 13.300.000 đồng Hân nhờ đổi là tiền gì). Ngoài ra, đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” còn hỗ trợ Hân và Kiệt 10.000.000 đồng tiền thuê nhà, số tiền này đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” hƣớng dẫn Hân ra cây ATM để rút bằng việc đăng nhập mã OTP trên cây ATM. Hân đã nhận tổng cộng 23.300.000 đồng, Hân đã tiêu sài cá nhân hết. Ngoài ra Kiệt còn đƣợc nhận 3.000.000 đồng tiền mặt từ ngƣời giao hàng, khi nhận các gói hàng chứng chỉ giả của đối tƣợng “Long Ka”, Kiệt đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 06/6/2025 CQĐT khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Tuấn Kiệt và Nguyễn Ngọc Hân, quá trình khám xét thu giữ:
- 01 (một) bộ máy vi tính gồm: màn hình vi tính có chữ “KV-VISION”, 01 bàn phím, 01 chuột máy tính, 01 cây máy tính, trên mặt cây máy có chữ VIETTECH X22 Aether.
- 01 (một) máy in màu đen đã qua sử dụng, trên mặt có chữ L865.
- 06 (sáu) lọ mực nƣớc có màu sắc khác nhau, bên trên bề mặt đều có chữ InkTec.
- 01 (một) máy in hiệu “hiti” đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy ép nhiệt trên bảng điều khiển có chữ VAMINATOR.
- 01 (một) bàn cắt giấy thủ công.
- 02 (hai) hộp bìa catton bên ngoài đều có dán mác có nội dung: Ruy băng mực màu máy in thẻ hiti, bên trong các hộp đều có lọ mực.
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EB1068389.
- 01 (một) bằng kỹ sƣ số 0001230 của trƣờng Đại học kỹ thuật công nghiệp Đại học Thái Nguyên cấp cho Lƣu Trung Sỹ.
- 01 (một) bằng kỹ sƣ có dấu chứng thực cấp cho Lƣu Trung Sỹ.
- 01 (một) bảng kết quả học tập có dấu chứng thực cấp cho Lƣu Trung Sỹ.
- Phát hiện thu giữ nhiều phôi giấy phép lái xe không tiến hành kiểm đếm mà niêm phong theo quy định.
- 06 (sáu) hộp bìa cattong.
Hồ Tuấn Kiệt khai nhận: 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB1068389; 01 bằng kỹ sƣ số 0001230 của trƣờng Đại học kỹ thuật công nghiệp Đại học Thái Nguyên cấp cho Lƣu Trung Sỹ là do đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” chuyển cho Kiệt để gửi đi nhƣng đã huỷ đơn hàng.
Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành làm việc với bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn và đƣợc cung cấp: Ngày 09/05/2025, khách hàng tự xƣng Ly Mí Hờ, sinh năm 2005, trú tại thôn Dinh Lúng, xã Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đến bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn ký kết hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bƣu chính số 187/2025/HĐBCCP/BĐTTNSG-LMH về việc cung ứng và sử dụng dịch vụ chuyển phát. Tối ngày 22/5/2025, chị Trần Thị Kim Huê, sinh năm 1988 trú tại 1368/79 Lê Văn Lƣơng, xã Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh nhận đƣợc tin nhắn qua ứng dụng Facebook của Ly Mí Hờ một danh sách các địa chỉ ngƣời nhận và mã đơn hàng và bảo Huê là sáng ngày 23/5/2025 thì sẽ có ngƣời giao hàng tới bƣu cục quận 7 để gửi đi. Sáng ngày 23/5/2025, anh Lâm Minh Liêm đã đến bƣu cục quận 7 gửi 03 túi nilon chứa 53 đơn hàng để bƣu cục quận 7 chuyển phát đến địa chỉ nhận. Bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn cung cấp thông tin từ ngày ký hợp đồng cung ứng và dịch vụ chuyển phát với bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn thì shop Ly Mí Hờ chỉ gửi chuyển phát tại bƣu cục quận 7 một lần vào ngày 23/5/2025 ngoài ra không lần nào gửi chuyển phát tại bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn nữa.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Ly Mí Hờ, kết quả Ly Mí Hờ trình bày chƣa bao giờ đến thành phố Hồ Chí Minh và không ký kết hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bƣu chính số 187/2025/HĐBCCP/BĐTTNSG-LMH với bƣu cục quận 7, bƣu điện trung tâm Nam Sài Gòn.
Cơ quan điều tra đã xác minh tài khoản Zalo “Chƣơng là CCql nhanh” có thông tin sinh ngày 01/01/1983: Tại Công văn số 0133/2025/CVZA-VNGG ngày 18/8/2025 của Công ty cổ phần tập đoàn VNG (VNGG) xác nhận: Bộ phận kỹ thuật không lƣu thông tin nhƣ cơ quan điều tra yêu cầu nên VNGG không thể hỗ trợ cung cấp thông tin.
Đối với các tài khoản Telgram “Long Ka”, “Phạm Ngọc Hải”, “Boss-Limit”: Tại Công văn số 400/SKHCN-CĐS ngày 14/8/2025 của Sở khoa học và Công nghệ thuộc UBND tỉnh Lào Cai cung cấp thông tin nhƣ sau: Hiện tại ứng dụng Telegram không thể truy cập trực tiếp tại Việt Nam. Sở khoa học và công nghệ đã thực hiện các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để tìm kiếm trực triếp trên Telegram và tìm kiếm gián tiếp liên kết quan mạng xã hội. Tuy nhiên do chính sách bảo mật nghiêm ngặt của Telegram đƣợc thiết kế để bảo vệ quyền riêng tƣ của ngƣời dùng nên các thông tin theo nội dung để nghị của cơ quan điều tra (Thông tin tài khoản; thời gian đăng nhập, số điện thoại đăng kí, thông tin ngƣời đăng kí; các nội dung nhắn tin, lịch sử liên lạc của các tài khoản,…) đƣợc coi là thông tin cá nhân và không hiện thị công khai. Do đó sở khoa học và công nghệ không tìm đƣợc các thông tin trên.
Đối với tài khoản VIB số 073172523 mang tên DO DONG HA là tài khoản nhận số tiền 19.000.000 đồng làm chứng chỉ giả của Hà Kỷ Nguyên: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành xác minh xác định chủ tài khoản là Đỗ Đồng Hà, sinh ngày 24/06/2003, trú tại thôn Nam Bang 2, xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 08/9/2025, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Lào Cai ra Quyết định Uỷ thác điều tra số 5214 Uỷ thác cho cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Thanh Hoá tiến hành điều tra, xác minh về Đỗ Đồng Hà. Kết quả: Đỗ Đồng Hà không có mặt tại địa phƣơng.
Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB1068389: Kết quả xác minh tại Trung tâm kiểm định 20-03D xác định Trung tâm đăng kiểm 20-03D không cấp giấy chứng nhận kiểm định số EB1068389 ngày 9/6/2025 cho xe ô tô BKS 20C – 162.64.
Đối với 01 Bằng kỹ sƣ số 0001230 của trƣờng Đại học kỹ thuật công nghiệp Đại học Thái Nguyên cấp cho Lƣu Trung Sỹ: Tại Công văn số 792/ĐHKTCN ngày 15/8/2025 của Đại học kỹ thuật Công Nghiệp, Đại học Thái Nguyên cung cấp thông tin nhƣ sau: Lƣu Trung Sỹ, sinh ngày 25/10/2994 không có tên trong sổ cấp bằng và hệ thống quản lý văn bằng của trƣờng Đại học Kỹ thuật công nghiệp, Đại học Thái Nguyên. Số hiệu bằng 001230 là của cựu sinh viên Hoàng Văn Thảo, sinh ngày 26/01/2989, tốt nghiệp năm 2013, ngành kỹ thuật môi trƣờng. Số vào sổ 964-M là của cựu sinh viên Đỗ Thành Đạt, sinh năm 27/02/1989, tốt nghiệp năm 2014 ngành Cơ khí chế tạo máy.
Đối với 52 đơn hàng gửi giấy tờ giả còn lại đƣợc gửi ngày 23/5/2025 quá trình điều tra CQĐT đã tiến hành xác minh ngƣời nhận hàng và tiến hành uỷ thác điều tra. Đến khi kết thúc điều tra đã có 15 kết quả uỷ thác điều tra gồm:
- Chị Văn Thị Bích Ly, sinh năm 1986, trú tại tổ 12CG, phƣờng Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hiện không sinh sống tại địa phƣơng, không rõ đi đâu, làm gì nên chƣa có căn cứ điều tra, xác minh, xử lý.
- Chị Tạ Thị Hoa, sinh năm 1993, khai nhận chồng mình là Phạm Văn Bình, sinh năm 1988, cùng trú tại xóm Hƣng Trung 6, xã Yên Trung, tỉnh Nghệ An, có đặt mua chứng chỉ qua mạng xã hội. Anh Bình khai nhận khoảng tháng 5/2025 có sử dụng điện thoại của vợ thì thấy bài đăng của shop Ly Mí Hờ nên đã đặt mua một chứng chỉ của trƣờng Cao đẳng Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam
- Hàn Quốc với giá 3.200.000 đồng. Trong khoảng từ ngày 23/5/2025 đến khoảng ngày 05/6/2025 có nhận đƣợc đơn hàng của shop Ly Mí Hờ bên trong có 01 chứng chỉ của trƣờng Cao đẳng Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc nhƣng do không giống thật nên đã gửi trả hàng và chƣa thanh toán tiền.
- Anh Hoàng Văn Vƣợng, sinh năm 1992, trú tại thôn 3, xã Anh Sơn Đông, tỉnh Nghệ An, qua xác minh anh Vƣợng đã chuyển đến tổ 14, khu phố An Lợi, phƣờng Hoà Lợi, thành phố Hồ Chí Minh. CQĐT tiếp tục uỷ thác điều tra nhƣng hiện chƣa có kết quả.
- Anh Nguyễn Văn Bách, sinh năm 1984, trú tại thôn Nội Lễ, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hƣng Yên, khai nhận vào khoảng tháng 5/2025 trong quá trình sử dụng mạng xã hội facebook có đặt mua 02 bằng lái tài hạng T1 với giá 4.000.000 đồng. Trong khoảng từ ngày 23/5/2025 đến khoảng ngày 05/6/2025 có một nam shipper báo có một gói hàng giấy tờ nhƣng anh Bách đã báo trả hàng và không nhận.
- Anh Nguyễn Hữu Tính, sinh năm 1992, trú tại thôn La Châu, xã Tƣ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, thời điểm xác minh không có mặt tại địa phƣơng nên không làm việc đƣợc.
- Anh Trần Anh Duy, sinh năm 2002, trú tại số 151 Nguyễn Thị Định, khu phố Phú Lâm 5, phƣờng Phú Yên, tỉnh Đắk Lắk, thời điểm xác minh không có mặt tại địa phƣơng, không rõ làm gì, ở đâu.
- Anh Nguyễn Duy Thuận, sinh năm 1996, trú tại khu phố Phƣớc Lập, phƣờng Phú Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh, khai nhận vào khoảng tháng 5/2025 có lên mạng xã hội zalo tìm mua chứng chỉ tiếng anh (toeic) với giá 3.000.000 đồng để xin việc vào công ty, anh Thuận không nhớ chính xác zalo là gì. Sau đó vài ngày anh Thuận nhận một đơn hàng bên trong có một chứng chỉ tiếng Anh, anh Thuận thanh toán tiền qua nhân viên giao hàng. Sau khi nhận đƣợc chứng chỉ anh Thuận so sánh với chứng chỉ của vợ thấy không giống thật nên không sử dụng và đã bỏ đi không biết ở đâu.
- Anh Hoàng Văn Thân, sinh năm 1988, trú tại tổ 8, phƣờng Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình, khai nhận từ khoản ngày 23/5/2025 đến ngày 05/6/2025 có nhắn tin trao đổi với một tài khoản facebook về việc muốn mua một sổ tiết kiệm giả của ngân hàng Agribank thể hiện số tiền tiết kiệm là 380.000.000 đồng, với giá là 1.500.000 đồng. Lý do đặt sổ tiết kiệm là do làm ăn thua lỗ, không muốn vợ biết đã rút tiền ra để trả nợ nên đặt sổ tiết kiệm khi vợ hỏi sẽ mang ra xem, sau đó sẽ bù dần số tiền đã rút ra. Anh Thân khai nhận không lƣu hành hay sử dụng sổ tiết kiệm giả này, trong quá trình dọn dẹp nhà đã vứt sổ tiết kiệm giả đi.
- Anh Nguyễn Hải Cƣờng, sinh năm 1989, đăng ký thƣờng trú tại khu phố 7, xã Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình xác minh gia đình cung cấp thông tin anh Cƣờng đã bỏ nhà đi từ năm 2023 đến nay không rõ làm gì, ở đâu.
- Chị Tải Thị Liệu Điệp, sinh năm 1993, có đăng thƣờng trú tại thôn Cốc Tủm 1, xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai. Quá trình xác minh không có mặt tại địa phƣơng.
- Anh Phạm Thanh Tùng, sinh năm 1985, trú tại ấp Phạm Thành Hơn B, xã Cù Lao Dung, thành phố Cần Thơ, thời điểm xác minh không có mặt tại địa phƣơng.
- Anh Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm1995, trú tại 28/29/01 tổ 7 Thới Ninh, phƣờng Thới An Đông, thành phố Cần Thơ, khai nhận không quen biết ai tên là Ly Mí Hờ và đặt mua hàng.
- Chị Ngô Thị Ý, sinh năm 1994, đăng ký thƣờng trú tại ấp Thanh Sơn, xã Vĩnh Mỹ, tỉnh Cà Mau, thời điểm xác minh không có mặt tại địa phƣơng, đi đâu, làm gì địa phƣơng không rõ.
- Anh Nguyễn Xuân Thuỳ, sinh năm 1996, trú tại thôn 2, xã Thái Bình, tỉnh Tuyên Quang, khai nhận có lên mạng xã hội facebook và zalo tìm mua bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả cho bạn của mình là Hà Thanh Dịu, sinh năm 2003, trú tại xã Vân Xuân, tỉnh Tuyên Quang để xin việc công ty với giá 1.500.000 đồng. Khoảng tháng 6/2025 có nhận một đơn hàng bên trong có 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả và 03 bản phô tô. Tuy nhiên khi xem hàng Thuỳ thấy bằng tốt nghiệp giả không giống với bằng thật mà Thuỳ đang có nên đã đem đi đốt cùng với 03 bản phô tô. Thuỳ không nói cho Dịu biết việc mình đặt giấy tờ giả và chƣa sử dụng giấy tờ giả vào mục đích gì.
- Anh Nguyễn Văn Nghệ, sinh năm 1971, trú tại khối Nghi Tân 4, phƣờng Cửa Lò, tỉnh Nghệ Anh, khai nhận không quen biết ai là Ly Mí Hờ, không nhận đƣợc hàng nào từ shop Ly Mí Hờ gửi đến, không liên quan đến việc làm giấy tờ giả.
Ngày 06-3-2026, Hà Kỷ Nguyên đã tự nguyện giao nộp số tiền 7.000.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính có đƣợc từ hành vi phạm tội.
- Tại bản Kết luận số 286/KLGĐ ngày 14/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
1. 09 Chứng chỉ Ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản ký hiệu A1 đến A9 gửi đi giám định là giả.
2. 10 Chứng chỉ ngoại ngữ ký hiệu A10 đến A19 gửi đi giám định đều là giả.
3. 01 chứng chỉ mang tên Hà Kỷ Nguyên, số 12/QDD7272.18-CDNNMN3 (ký hiệu A20)
+ Không tiến hành giám định mẫu in do không có mẫu so sánh.
+ Hình dấu có nội dung “Trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội” trên tài liệu cần giám định so với mẫu so sánh của Trƣờng Đại học sƣ phạm trên các tài liệu mẫu so sánh M4, M5 là do cùng một con dấu đóng ra.
+ Chứ ký đề tên Nguyễn Văn Minh trên tài liệu giám định so với chữ ký Nguyễn Văn Minh trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 do cùng một ngƣời ký ra.
4. 01 chứng chỉ nghiệp vụ quản lý giáo dục, mang tên Hà Kỷ Nguyên, số hiệu CC12406 (ký hiệu A21)
+ Không tiến hành giám định mẫu in do không có mẫu so sánh.
+ Hình dấu tròn có nội dung “Trƣờng đại học Sƣ phạm Hà Nội” trên tài liệu giám định đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu.
+ Chữ ký đề tên Nguyễn Văn Minh trên tài liệu cần giám định đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu.
5. Hình dấu tròn đỏ có nội dung Văn phòng công chứng Vạn Xuân trên 45 bản sao Chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và Chứng chỉ ngoại ngữ (ký hiệu từ A22 đến A66A) đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu.
- Tại bản Kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
Hình dấu có nội dung “TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 không đƣợc đóng trực tiếp, đƣợc tại ra bằng phƣơng pháp in màu.
Chữ ký đề tên Phạm Quang Thế trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 không đƣợc ký trực tiếp, đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu.
Hình dấu có nội dung “TRUNG TÂM ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI 20-03D” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 không đƣợc đóng trực tiếp, đƣợc tại ra bằng phƣơng pháp in màu.
Chữ ký đề tên Dƣơng Ngọc Thái trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 không đƣợc ký trực tiếp, đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-KV2 ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai truy tố Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Kỷ Nguyên 03 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Tuấn Kiệt từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Áp dụng điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hân từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc: 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 (một) màn hình máy tính có chữ KV-VISION, 01 (một) bàn phím, 01 (một) chuột máy tính, 01 (một) cây máy tính trên mặt có chữ VIETTECH X22 Aether; 01 (một) máy in màu đen đã qua sử dụng bên mặt máy có chữ L805; 01 (một) máy in hiệu hiti đã qua sử dụng; 01 (một) máy ép nhiệt đã qua sử dụng trên bảng điều khiển có chữ LAMINATOR; 01 (một) bàn cắt giấy thủ công; 01 (một) điện thoại di động OPPO Reno8 T mặt lƣng màu xanh vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Plus; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 820; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 vỏ màu tím. (do Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp); 01 (một) điện thoại di động Xiaomi (Redmi) vỏ mặt sau màu xanh đã qua sử dụng (do Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp bìa catton bọc bên ngoài túi nilon màu hồng đã bị xé mở, trên túi nilon có ghi dòng chữ “11053” màu xanh và có dán mảnh giấy đề tên ngƣời gửi là Lý Mi Hờ. 06 (sáu) lọ mực nƣớc có màu sắc khác nhau bên trên bề mặt mỗi lọ có chữ Inteck. 02 (hai) hộp giấy catton bên ngoài có chữ có nội dung: “Ruy băng mức màu máy in thẻ hiti, bên trong các hộp có lọ mực. 06 (sáu) hộp bìa catton. 30 (ba mƣơi) phôi Giấy phép lái xe. 01 (một) quyển sổ bìa màu đen kích thƣớc khoảng 20cm x 30cm bên trong có nhiều trang giấy có chữ viết (do Hà Kỷ Nguyên tự nguyện giao nộp).
- Trả lại cho bị cáo Hà Kỷ Nguyên: 01 (một) chứng chỉ số 12/QDD.18_CDNNMN3 có tên Hà Kỷ Nguyên.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc:
+ Số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) do Hà Kỷ Nguyên tự nguyện giao nộp.
+ Số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) do Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp.
+ Số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) do Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc Hân số tiền thu lợi bất chính là 16.300.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đều khai báo thành khẩn; nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ, đảm bảo hợp pháp, khách quan.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, ngƣời làm chứng, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích kiếm lời bất chính, Ngày 18/5/2025, Nguyên đã cung cấp thông tin, địa chỉ của 8 cá nhân là giáo viên cùng trƣờng với Nguyên cho đối tƣợng có tài khoản zalo là “Chƣơng làm CCql nhanh" để làm 7 chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản giả, 8 chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh giả. Nguyên đã thu của 7 giáo viên là 26.000.000 đồng (riêng Hoàng Thị Hơi chƣa chuyển tiền làm chứng chỉ cho Nguyên là 4.000.000 đồng). Ngày 20/5/2025 Nguyên đã chuyển cho đối tƣợng có tài khoản zalo “Chƣơng làm CCql nhanh" số tiền 19.000.000 đồng, Nguyên thu lợi bất chính số tiền 7.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Ngọc Hân và Hồ Tuấn Kiệt: Khoảng giữa tháng 5/2025 Hân và Kiệt đƣợc đối tƣợng có tài khoản Telegram “Long Ka” thuê để thực hiện việc đóng gói, vận chuyển các chứng chỉ giả gửi cho ngƣời nhận. Ngày 22/5/2025 Kiệt đã đóng gói 53 gói hàng chứa các chứng giả giả và ngày 23/5/2025 Kiệt đƣa cho Hân thuê dịch vụ vận chuyển chuyển các gói hàng đến bƣu cục quận 7, Bƣu điện Nam Sài gòn, trong đó có 1 gói hàng của Hà Kỷ Nguyên bên trong có chứa 15 chứng chỉ giả.
Mặc dù không phải là ngƣời trực tiếp làm các chứng chỉ giả, nhƣng việc Hân và Kiệt đóng gói và gửi các chứng chỉ giả đến các địa chỉ ngƣời nhận là hành vi giúp sức cho các đối tƣợng trong việc làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Hân thu lợi bất chính số tiền 23.300.000 đồng; Kiệt thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân đã phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 341 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
Về nhân thân: Bản thân các bị cáo đều có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Hà Kỷ Nguyên trong quá trình công tác tại ngành Giáo dục có nhiều năm là chiến sỹ thi đua cơ sở, bị can có bố là ngƣời có công với cách mạng đƣợc nhận Huy chƣơng kháng chiến hạng Nhì, nên đƣợc hƣởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, Hà Kỷ Nguyên là ngƣời đã đặt mua các chứng chỉ giả và Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân là ngƣời đã đóng gói, gửi các chứng chỉ giả cho Hà Kỷ Nguyên và những ngƣời mua khác. Các bị cáo đóng vai trò là ngƣời giúp sức trong việc làm giả các tài liệu. Bị cáo Hà Kỷ Nguyên thu lợi bất chính không đáng kể. Bị cáo Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân là trực tiếp nhận các chứng chỉ giả từ tài khoản Telegram “Longka” chuyển đến để chuyển đi cho Hà Kỷ Nguyên và những ngƣời mua, đóng vai trò giúp sức tích cực nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Hà Kỷ Nguyên. Các bị cáo đều là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính của Nhà nƣớc, xâm phạm đến hoạt động bình thƣờng, đúng đắn cua cơ quan Nhà nƣớc. Do đó, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, xét bị cáo Hà Kỷ Nguyên có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà phạt tù cho hƣởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Đối với bị cáo Hồ Tuấn Kiệt và Nguyễn Ngọc Hân cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hà Kỷ Nguyên mặc dù là giáo viên có thu nhập nhƣng nhất thời phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; bị cáo Hồ Tuấn Kiệt và Nguyễn Ngọc Hân đều là lao động tự do, không chịu tu dƣỡng làm ăn chân chính mà tìm kiếm việc này làm nguồn thu nhập chính nên cần nên phạt các bị cáo một khoản tiền để nộp Ngân sách Nhà nƣớc để răn đe đối với các bị cáo.
Đối với các đối tƣợng có tài khoản Telgram “Long Ka”; “Phạm Ngọc Hải”, “Boss Limit” và đối tƣợng sử dụng tài khoản zalo "Chƣơng làm CCql nhanh": Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhƣng không xác định đƣợc thông tin của các đối tƣợng sử dụng các tài khoản này, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Đối với ông Nguyễn Minh Hùng (bố đẻ của Nguyễn Ngọc Hân): Quá trình điều tra xác định ông Hùng không biết các gói hàng Hân đƣa cho ông Hùng mang đi đƣa cho ngƣời giao hàng chứa tài liệu gì. Không biết và không liên quan đến đến việc làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức của Hân và Kiệt nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
- Đối với đối tƣợng tên Ly Mí Hờ: Quá trình điều tra xác định Ly Mí Hờ không kí kết hợp đồng cung ứng dịch vụ bƣu chính với bƣu cục quận 7, Bƣu điện Nam Sài Gòn, không quen biết với Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Lào Cai không đề cập xử lý đối với Ly Mí Hờ là có căn cứ.
- Đối với hành vi sử dụng các chứng chỉ giả của Hà Kỷ Nguyên và Trần Quốc Tuấn: Hành vi nêu trên của Nguyên và Tuấn có dấu hiệu của tội sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự, tuy nhiên do tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi không đáng kể nên căn cứ khoản 2, Điều 8 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Nguyên và Tuấn về hành vi này là có căn cứ.
- Đối với Tô Thị Tích, Lý Thị Lƣu, Trần Thị Loan, Triệu Thị Thƣơng, Triệu Thị Khuyến, Trịnh Thị Ân, Hoàng Thị Hơi, Triệu Thị Ngan là những ngƣời đặt mua chứng chỉ giả thông qua Hà Kỷ Nguyên: Quá trình điều tra xác định chƣa ai nhận đƣợc chứng chỉ giả nên chƣa sử dụng do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với Phạm Văn Bình, Nguyễn Văn Bách, Nguyễn Duy Thuận, Hoàng Văn Thân, Nguyễn Xuân Thuỳ là những ngƣời đã đặt mua giấy tờ giả tuy nhiên không nhận hàng hoặc có nhận hành nhƣng không sử dụng giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
7.1. Các vật chứng cần đƣợc tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án gồm:
+ 07 (bảy) chứng chỉ Ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và 07 (bảy) chứng chỉ ngoại ngữ mang tên Trần Thị Loan, Hoàng Thị Hơi, Trịnh Thị Ân, Lý Thị Lƣu, Tô Thị Tích, Triệu Thị Khuyến, Triệu Thị Thƣơng; 01 (một) chứng chỉ ngoại ngữ ngôn ngữ Tiếng Anh mang tên Triệu Thị Ngan; 45 (bốn mƣới lăm) bản phô tô trên góc có ghi chữ "BẢN SAO" của các chứng chỉ trên.
+ 01 (một) chứng chỉ chúng chỉ Ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và 01 (một) chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh mang tên Trần Quốc Tuấn.
+ 01 (một) chứng chỉ và 01 (một) bản sao ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản; 01 (một) chứng chỉ ngoại ngữ và 01 (một) bản sao đều do Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội cấp mang tên Hà Kỷ Nguyên.
+ 01 (một) chứng chỉ nghiệp vụ quản lý giáo dục số CC12406 mang tên Hà Kỷ Nguyên.
+ 01 (một) bằng tốt nghiệp đại học số 0001230 và 01 (một) bản phô tô có ghi chữ "BẢN SAO" có tên Lƣu Trung Sỹ; 01 (một) bảng kết quả học tập có tên Lƣu Trung Sỹ có chữ bản sao.
+ 01 (một) chứng nhận kiểm định số EB 1068389 cấp cho xe ô tô BKS: 20C-162.64.
+ 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong.
7.2. Các vật chứng khác đã chuyển sang Cơ quan thi hành án, cần xử lý nhƣ sau:
+ Đối với các vật chứng: 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 (một) màn hình máy tính có chữ KV-VISION, 01 (một) bàn phím, 01 (một) chuột máy tính, 01 (một) cây máy tính trên mặt có chữ VIETTECH X22 Aether; 01 (một) máy in màu đen đã qua sử dụng bên mặt máy có chữ L805; 01 (một) máy in hiệu hiti đã qua sử dụng; 01 (một) máy ép nhiệt đã qua sử dụng trên bảng điều khiển có chữ LAMINATOR; 01 (một) bàn cắt giấy thủ công; 01 (một) điện thoại di động OPPO Reno8 T mặt lƣng màu xanh vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Plus; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 820; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 vỏ màu tím. (do Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp); 01 (một) điện thoại di động Xiaomi (Redmi) vỏ mặt sau màu xanh đã qua sử dụng (do Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp). Xét liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc:
- Các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 (một) chứng chỉ số 12/QDD.18_CDNNMN3 có tên Hà Kỷ Nguyên, xét không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo Hà Kỷ Nguyên.
- Đối với số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo Hà Kỷ Nguyên tự nguyện giao nộp, số tiền 3.000.000 đồng do bị cáo Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp và số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp, xét đây là tiền các bị cáo thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc Hân số tiền thu lợi bất chính là 16.300.000 đồng.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
2.1. Đối với bị cáo Hà Kỷ Nguyên:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Kỷ Nguyên 03 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28-4-2026).
Trong thời gian thử thách giao bị cáo Hà Kỷ Nguyên cho trƣờng tiểu học và THCS Tân Phƣợng, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với nhà trƣờng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2. Đối với bị cáo Hồ Tuấn Kiệt:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Tuấn Kiệt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20-6-2025.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 341; Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bị cáo 5.000.00đ (năm triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
2.3. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hân:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hân 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20-6-2025.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 341; Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bị cáo 5.000.00đ (năm triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử lý vật chứng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 3 năm 2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lào Cai nhƣ sau:
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc: 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 (một) màn hình máy tính có chữ KV-VISION, 01 (một) bàn phím, 01 (một) chuột máy tính, 01 (một) cây máy tính trên mặt có chữ VIETTECH X22 Aether; 01 (một) máy in màu đen đã qua sử dụng bên mặt máy có chữ L805; 01 (một) máy in hiệu hiti đã qua sử dụng; 01 (một) máy ép nhiệt đã qua sử dụng trên bảng điều khiển có chữ LAMINATOR; 01 (một) bàn cắt giấy thủ công; 01 (một) điện thoại di động OPPO Reno8 T mặt lƣng màu xanh vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Plus; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 820; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 vỏ màu tím. (do Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp); 01 (một) điện thoại di động Xiaomi (Redmi) vỏ mặt sau màu xanh đã qua sử dụng (do Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp bìa catton bọc bên ngoài túi nilon màu hồng đã bị xé mở, trên túi nilon có ghi dòng chữ “11053” màu xanh và có dán mảnh giấy đề tên ngƣời gửi là Lý Mi Hờ; 06 (sáu) lọ mực nƣớc có màu sắc khác nhau bên trên bề mặt mỗi lọ có chữ Inteck; 02 (hai) hộp giấy catton bên ngoài có chữ có nội dung: “Ruy băng mức màu máy in thẻ hiti, bên trong các hộp có lọ mực. 06 (sáu) hộp bìa catton; 30 (ba mƣơi) phôi Giấy phép lái xe; 01 (một) quyển sổ bìa màu đen kích thƣớc khoảng 20cm x 30cm bên trong có nhiều trang giấy có chữ viết (do Hà Kỷ Nguyên tự nguyện giao nộp).
- Trả lại cho bị cáo Hà Kỷ Nguyên: 01 (một) chứng chỉ số 12/QDD.18_CDNNMN3 có tên Hà Kỷ Nguyên.
(Tình trạng vật chứng có đặc điểm chi tiết như trong biên bản giao nhận vật chứng).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc:
+ Số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) do Hà Kỷ Nguyên tự nguyện giao nộp.
+ Số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) do Nguyễn Ngọc Hân tự nguyện giao nộp.
+ Số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) do Hồ Tuấn Kiệt tự nguyện giao nộp.
Số tiền tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước nêu trên hiện các bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000155 ngày 06-3-2026 và các biên lai thu tiền số 0000289; 0000288 ngày 17-4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc Hân số tiền thu lợi bất chính là 16.300.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hà Kỷ Nguyên, Hồ Tuấn Kiệt, Nguyễn Ngọc Hân mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND KV2- Lào Cai; - Công an tỉnh Lào Cai; - P.THADS KV2- Lào Cai; - Sở tƣ pháp; - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh; - Bị cáo; NLQ; - Trƣờng TH&THCS Tân Phƣợng; - Lƣu HS, THA, TA. phép chất ma tuý cho Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh, Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản và sau đó chứa chấp các đối tƣợng sử dụng ma tuý trái phép tại nơi ở của mình nhƣ các đối tƣợng đã khai báo tại Cơ quan điều tra nêu trên. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau: điều tra Công an huyện Yên Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ, đảm bảo hợp pháp, khách quan. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn Quảng: tuý trái phép cho Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh phù hợp với lời khai của ngƣời những ngƣời làm chứng Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh, Dƣơng Thanh Hƣng; phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang tại nơi ở của Bùi Văn Quảng có đối tƣợng Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản ở nhà Quảng khi Cơ quan điều tra bắt quả tang ngày 15/6/2021, phù hợp với biên bản nhận dạng đối tƣợng Bùi Văn Quảng cùng các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn Quảng đã 08 lần bán ma tuý trái phép cho Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh. Cụ thể: ba ngƣời là Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh và Trần Đức Khang 02 tép ma tuý, loại heroine với số tiền 200.000đ/tép. Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản mỗi ngƣời một tép ma tuý, loại heroine với số tiền 200.000đ/tép. Nguyễn Quốc Toản 01 tép ma tuý, loại heroine với số tiền 200.000đ. Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản mỗi ngƣời một tép ma tuý, loại heroine với số tiền 200.000đ/tép. Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản mỗi ngƣời 01 tép ma tuý, loại heroine (bán cho Khang 01 tép với số tiền 195.000đ; bán cho Toản 01 tép với số tiền 200.000đ). chính số tiền 1.795.000 đồng. ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý cho các đối tƣợng Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh phù hợp với lời khai của ngƣời những ngƣời làm chứng Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh, Dƣơng Thanh Hƣng; phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang tại nơi ở của Bùi Văn Quảng có đối tƣợng Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản ở nhà Quảng khi Cơ quan điều tra bắt quả tang ngày 15/6/2021, phù hợp với biên bản làm việc ngày 12/7/2021 (BL 265; 267; 268) về việc phát hiện và thu giữ tại nơi ở của Quảng 02 đoạn vỏ ống nhựa màu trắng, một đầu hở, một đầu hàn kín, có bám dính bùn đất mà Toản và Khang khai nhận là đã vứt lại sau khi sử dụng ma tuý tại nhà Quảng ngày 15-6-2021; Sơ đồ phòng khách Quảng và vợ Quảng vẽ cùng lời khai của Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh về cách bố trí phòng khách tại nhà Quảng phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn Quảng đã 04 lần chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý cho Trần Đức Khang, Nguyễn Quốc Toản, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh tại nơi ở của Quảng. Cụ thể: Khang, Dƣơng Minh Tuấn, Phạm Quang Minh sử dụng trái phép chất ma tuý. Khang và Nguyễn Quốc Toản sử dụng trái phép chất ma tuý. Khang và Nguyễn Quốc Toản sử dụng trái phép chất ma tuý. Khang và Nguyễn Quốc Toản sử dụng trái phép chất ma tuý. dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. khi bắt quả tang ngày 15/6/2021 (giám định có trọng lƣợng 1,12 gam là ma tuý, loại heroine) nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phiên toà, bị cáo đã khai báo thành khẩn nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. trái phép chất ma tuý”: Tại phiên toà bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi phạm tội của bản thân, khai báo thành khẩn nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả ba tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Đào Tại phiên toà bị cáo Bùi Văn Quảng thừa nhận hành vi phạm tội bán trái NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát [2.1] Lời khai của bị cáo Bùi Văn Quảng tại phiên toà về hành vi bán ma - Ngày 07/6/2021, Bùi Văn Quảng bán trái phép chất ma tuý một lần cho - Ngày 10/6/2021, Bùi Văn Quảng bán trái phép chất ma tuý hai lần cho - Ngày 12/6/2021, Bùi Văn Quảng bán trái phép chất ma tuý một lần cho - Ngày 14/6/2021, Bùi Văn Quảng bán trái phép chất ma tuý hai lần cho - Ngày 15/6/2021, Bùi Văn Quang bán trái phép chất ma tuý hai lần cho Qua các lần bán trái phép chất ma tuý, Bùi Văn Quảng đã thu lợi bất Hành vi nêu trên của Bùi Văn Quảng đã phạm tội “Mua bán trái phép chất [2.2] Lời khai của bị cáo Bùi Văn Quảng tại phiên toà về hành vi chứa Lần thứ nhất: Ngày 07/6/2021, Bùi Văn Quảng đã chứa chấp Trần Đức Lần thứ hai: Ngày 10/6/2021, Bùi Văn Quảng đã chứa chấp Trần Đức Lần thứ ba: Ngày 14/6/2021, Bùi Văn Quảng đã chứa chấp Trần Đức Lần thứ tƣ: Ngày 15/6/2021, Bùi Văn Quảng đã chứa chấp Trần Đức Hành vi nêu trên của Bùi Văn Quảng đã phạm tội “Chứa chấp việc sử [2.3] Ngoài ra, bị cáo Bùi Văn Quảng khai nhận 14 tép ma tuý bị thu giữ Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”: Quá trình điều tra và tại Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Chứa chấp việc sử dụng Xét bị cáo có bố đẻ và anh trai là ngƣời có công với Nhà nƣớc nên bị cáo |