vanban.org

Bản án 21/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L. Quan hệ hôn nhân giữa anh Phùng Văn Toàn và chị Nguyễn Thị Lan chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019 cho a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HNGĐ - ST
Ngày 04 - 02 - 2026
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lợi và bà Đinh Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị xét xử công khai vụ án thụ lý số 147/2025/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1989

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: Thôn Kim T, xã Đồng L, tỉnh Quảng Trị. Có mặt

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: Thôn Kim T, xã Đồng L, tỉnh Quảng Trị.

Nơi ở hiện tại: Ấp Bến Cam, xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Lan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Phùng Văn T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị L có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đi vào miền nam làm ăn. Tuy nhiên, từ ngày 15/3/2021 đến nay cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh Toàn nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019. Sau khi ly hôn, anh Toàn có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Yêu cầu chị Lan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phùng Văn Toàn trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Lan trình bày:

Chị và anh Phùng Văn Toàn yêu thương, cưới nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nay anh Toàn làm đơn xin ly hôn thì chị Lan cũng đồng ý ly hôn vì hai vợ chồng không còn tình cảm.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019. Sau khi ly hôn, chị Lan giao con chung cho anh Toàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì hiện tại con chung đang sinh sống cùng anh Toàn. Chị Lan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Toàn mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lan trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Lan làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, lý do đang đi làm ở xa, điều kiện kinh tế khó khăn nên không thể trực tiếp đến Tòa án giải quyết ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 107, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Đề nghị xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Lan.

2. Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phùng Văn Toàn và chị Nguyễn Thị Lan.

3. Về quan hệ con chung: Đề nghị giao con chung Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019 cho anh Phùng Văn Toàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Lan phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Toàn mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 02/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.

Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét.

Về án phí: Anh Phùng Văn Toàn và chị Nguyễn Thị Lan phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Anh Phùng Văn Toàn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan, cư trú tại thôn Kim Thủy, xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị, đây là vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Lan vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/3/2019 tại Giấy chứng nhận kết hôn số 17/2019 của Ủy ban nhân dân xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa, anh Phùng Văn Toàn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị Nguyễn Thị Lan và tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Lan cũng đồng ý ly hôn anh Toàn với lý do tình cảm vợ chồng không còn. Xét trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, anh Toàn xin ly hôn chị Lan cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ con chung:

Anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L thống nhất quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019. Sau khi ly hôn, anh Toàn có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và yêu cầu chị Lan cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con chung trưởng thành. Chị Nguyễn Thị Lan cũng đồng ý giao con chung cho anh Toàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Toàn mỗi tháng 1.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, con chung đang sinh sống ổn định cùng anh Toàn, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con. Vì vậy, giao con chung Phùng Thị Nhã Phương cho anh Phùng Văn Toàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Nguyễn Thị Lan có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Toàn mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 02/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân là phù hợp với nguyện vọng của con, hai bên đương sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, điều kiện thực tế của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83, 107, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L thống nhất quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Phùng Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh Toàn đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002202 ngày 08 tháng 12 năm 2025. Anh Phùng Văn Toàn đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 107, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị L.

2. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phùng Văn T và chị Nguyễn Thị L. Quan hệ hôn nhân giữa anh Phùng Văn Toàn và chị Nguyễn Thị Lan chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phùng Thị Nhã Phương, sinh ngày 12/11/2019 cho anh Phùng Văn Toàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ tháng 02/2026, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và tiền cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Anh Phùng Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh Toàn đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002202 ngày 08 tháng 12 năm 2025. Anh Phùng Văn T đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/02/2026). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ