vanban.org

Bản án 21/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thảo V được ly hôn anh Trần Mạnh T.

Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Thảo V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Bảo N, sinh ngày 28/05/2021 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Trần Mạnh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị V là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị thảo v"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thảo V được ly hôn anh Trần Mạnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HNGĐ-ST
Ngày 03 tháng 02 năm 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và ông Trần Thanh Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thái Hà- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1-Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Lào Cai: Không tham gia.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thảo V, sinh năm 2000; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Bộ C2 cấp ngày 17/12/2024.

- Bị đơn: Anh Trần Mạnh T, sinh năm 1998. CCCD số xxxxxxxxxxxx do Bộ C2 cấp ngày 18/10/2024

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố M, phường Y, tỉnh Lào Cai.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 05-01-2026, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Thảo V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Mạnh T đăng ký kết hôn vào ngày 27/05/2021 tại UBND phường M, TP Y, tỉnh Yên Bái cũ (nay phường Y, tỉnh Lào Cai), trên cơ sở tự nguyện. C sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tiến C1 bơi, có mối quan hệ bất chính với người khác nên hai vợ chồng thường xuyên xô sát và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh Trần Mạnh T có 01 con chung là cháu Trần Bảo N, sinh ngày 28/05/2021. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N và chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu N là 2.000.000 đồng/tháng.

Hiện nay, cháu Bảo N đang ở với chị, từ khi sinh đến nay, chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Trước đây anh T thường xuyên đi làm ăn xa nên chị và con đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Chị đang làm việc tại hộ kinh doanh với mức thu nhập ổn định trung bình mỗi tháng là 11.000.000 đồng. Công việc của chị làm một ngày 8 tiếng nên chị có đủ kinh tế, thời gian để nuôi dạy cháu.

Về tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản bản tự khai ngày 15-01-2026 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Tiến M trình bày:

Về hôn nhân: Anh nhất trí với lời trình bày của chị Hoàng Thị Thảo V về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh đi làm xa nên vợ chồng rạn nứt tình cảm. Anh đã nói chuyện với chị V rất nhiều lần nhưng chị V không đồng ý. Anh và chị V đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, Tuy nhiên anh vẫn muốn vợ chồng vì nhau mà bỏ qua những sai lầm để hàn gắn tình cảm. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, đề nghị Toà án hòa giải cho vợ chồng anh về đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị V có 01 con chung như chị V đã trình bày. Nếu phải ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo N và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay anh đang làm đầu bếp tại tại Khách sạn thuộc công ty TNHH T1. Lương của anh đang trong tháng thử việc thì được thực lĩnh là 8.500.000 đồng. Nhưng khi bắt đầu được làm chính thức thì thực lĩnh của anh là 10.000.000 đồng (từ tháng 3 năm 2026). Một ngày anh làm 8 tiếng nên anh có thời gian đưa đón và chăm sóc con. Vì trước kia đi anh T đi làm ăn xa nên bây giờ muốn được bù đắp tình cảm cho cháu Bảo N.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Trần Mạnh T có nơi thường trú tại Tổ dân phố M, phường Y, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thảo V và anh Trần Mạnh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền vào ngày 27 tháng 5 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị V sau khi kết hôn vợ chồng chung sống chung sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tiến C1 bơi, có mối quan hệ bất chính với người khác nên đề nghị giải quyết cho ly hôn. Anh T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là anh đi làm xa nên vợ chồng rạn nứt tình cảm, Anh đề nghị được đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Chị V và anh T xác nhận đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị V là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Thảo V và anh Trần Mạnh T có một con chung là cháu Trần Bảo N, sinh ngày 28/05/2021. Chị V và anh T cùng có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bảo N cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cháu Bảo N còn nhỏ, đang sinh sống ổn định cùng chị V, bản thân cháu Bảo N là con gái nên giao cho chị V nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Cần buộc anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị V mỗi tháng là 2.000.000 đồng.

Về tài sản, nợ chung: Chị V và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị Thảo V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Anh Trần Mạnh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thảo V được ly hôn anh Trần Mạnh T.

2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Thảo V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Bảo N, sinh ngày 28/05/2021 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Trần Mạnh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị V là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu Bảo N đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Kể từ ngày chị V có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng

nuôi con, nếu anh T chưa khi thi hành, thì anh T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Anh Trần Mạnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thảo V phải chịu 300.000 đồng án phí DSST ly hôn được khấu trừ vào 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, ký hiệu: BLTU/26E, số 0000014 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai ngày 05/01/2026. Anh Trần Mạnh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng (anh T chưa nộp).

4. Về quyền kháng cáo: Chị V, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ