vanban.org

Bản án 21/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bùi Văn T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/4/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày 22 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nga

2. Ông Ngô Văn Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1963, tại tỉnh Quảng Ngãi; trú tại: Thôn Đồng Giữa, xã Hành Tín Đông, huyện H, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông, trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Sử và bà Trần Thị Dẵng (đều đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Liên và 05 người con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Hành Tín Đông, huyện H, tỉnh Quảng Ngãi từ ngày 04/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1974;

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1973 là chồng bà Th; cùng trú tại: Thôn Phú Lâm Đông, xã Hành Thiện, huyện H, tỉnh Quảng Ngãi; bà Th, ông Q có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 18/6/2024, Bùi Văn T dự đám giỗ tại nhà người quen ở xã Hành Đức, huyện H. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76F1-076.97 đi về nhà ở thôn Đồng Giữa, xã Hành Tín Đông, huyện H trong tình trạng đã sử dụng bia (nồng độ cồn Ethanol trong máu 203.9mg/dl). Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Km21+300 đường ĐT.624B thuộc thôn Vạn Xuân 2, xã Hành Thiện, huyện H, theo hướng từ xã Hành Thiện về Hành Tín Đông (hướng Tây sang Đông) trên phần đường bên phải (phần đường phía Nam) với tốc độ khoảng 20km/h. Lúc này, ở phía trước cùng chiều với xe Bùi Văn T điều khiển có xe ô tô 07 chỗ chạy tốc độ chậm, cách xe Bùi Văn T khoảng 05m; Bùi Văn T muốn vượt xe ô tô trên nên điều khiển xe mô tô tăng tốc khoảng 25km/h đi về phía bên trái và lấn qua phần đường ngược chiều (phần đường phía Bắc). Cùng lúc bà Nguyễn Thị Th điều khiển xe mô tô biển số 61H1-3988 đang đi trên phần đường ngược chiều (phần đường phía Bắc) nên xe mô tô do Bùi Văn T điều khiển đã va chạm với xe mô tô của bà Th điều khiển (mặt lăn bánh trước xe mô tô BKS 76F1-076.97 với bánh trước xe mô tô BKS 61H1-3988). Hậu quả bà Th và Bùi Văn T đều bị thương tích nặng, còn hai xe mô tô bị hư hỏng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện H xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là Km21+300 đường ĐT.624B, thuộc thôn Vạn Xuân 2, xã Hành Thiện, huyện H, tỉnh Quảng Ngãi. Trục đường theo phương Đông - Tây, mặt đường bê tông nhựa, bằng phẳng, có lòng đường rộng 5,4m, giữa tim đường có vạch màu vàng không liền nét, mỗi vạch dài 02m, rộng 0,15m; hai bên đường có lề bê tông xi măng rộng 0,5m, kế tiếp là nắp cống thoát nước rộng 0,7m.

Tại Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 985/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 76F1-076.97 với xe mô tô BKS 61H1-3988 là mặt lăn bánh trước xe mô tô BKS 76F1-076.97 (vị trí bị chà xát cao su, bám dính bụi đất) với bánh trước xe mô tô BKS 61H1-3988 (làm cho mặt lăn bánh trước vị trí cách chữ số “7” trong dòng chữ số “2.25-17” theo ngược chiều tiến bánh xe bị chà xát cao su, sạch bụi; vành bánh xe tương ứng vị trí này bị cong vênh hướng vào tâm và từ trái qua phải áp sát vào may ơ).

- Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa 02 xe là khu vực phía Tây dấu vết cày xước mặt đường (ký hiệu V1), thuộc phần đường phía Bắc, đường ĐT.624B, thôn Vạn Xuân 2, xã Hành Thiện, huyện H, tỉnh Quảng Ngãi.

- Tại trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô BKS 76F1-076.97 chuyển động trên đường ĐT.624B theo hướng từ Tây sang Đông, xe mô tô BKS 61H1-3988 chuyển động theo chiều ngược lại.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 4832/KLTTCT-C09B ngày 27/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Th tại thời điểm giám định là: 81% (Tám mươi mốt phần trăm) .

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 332/KLTTCT-TTPY ngày 30/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn T tại thời điểm giám định là: 40% (bốn mươi phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 338/KLTTCT-TTPY ngày 03/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Th tại thời điểm giám định là: 87% (tám mươi bảy phần trăm).

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu:

Sau khi xảy ra vụ tai nạn Bùi Văn T được đưa đến Bệnh viện đa khoa Phúc Hưng cấp cứu. Tại hồ sơ bệnh án của Bùi Văn T có kết quả nồng độ cồn trong máu như sau: Định lượng nồng độ cồn Ethanol 203.9mg/dl.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-NH ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố: Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Bùi Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.

Về phần bồi thường: Bị cáo Bùi Văn T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Nguyễn Thị Th số tiền 100.000.000 đồng; bà Th và người đại diện hợp pháp không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Tòa không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T đã khai đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định:

Vào khoảng 14 giờ ngày 16/8/2024, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76F1-076.97 từ xã Hành Đức về nhà ở xã Hành Tín Đông, huyện H trong tình trạng đã sử dụng rượu bia với nồng độ cồn Ethanol trong máu 203.9mg/dl. Khi đến đoạn đường Km 21+300 đường ĐT.624B thuộc thôn Vạn Xuân 2, xã Hành Thiện, huyện H, T vượt xe ô tô 07 chỗ đang chạy tốc độ chậm cùng chiều và lấn sang phần đường ngược chiều (phần đường phía Bắc) nên xe mô tô của Bùi Văn T đã va chạm với xe mô tô của bà Nguyễn Thị Th đang chạy ngược chiều. Hậu quả bà Nguyễn Thị Th bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 87%, Bùi Văn T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 40%.

Bị cáo Bùi Văn T điều kiển xe mô tô trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia với nồng độ cồn (Ethanol 203.9mg/dl) trong máu vượt quá mức quy định, vượt xe đang chạy cùng chiều trái quy định, đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia về các hành vi bị nghiêm cấm: “Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

Khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 87% nên Cáo trạng số 10/CT-VKS-NH ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo yêu cầu của gia đình bị hại, bị hại đã tự nguyện bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, gia đình bị cáo có công cách mạng, cha ruột Bùi Sử được tặng huy chiến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mẹ ruột Trần Thị Dẵng là thương binh ¾ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo bị tổn thương cơ thể 40%; do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị Quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo Bùi Văn T hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răng đe và phòng ngừa tội phạm.

[4 ] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Bùi Văn T đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Tòa không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, loại hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bùi Văn T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/4/2025).

Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hành Tín Đông, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí trong vụ án hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ