vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 22/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Bảo V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trương Bảo V: 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2025 bị cáo bị tạm giữ, tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Bảo Vinh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Bảo V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/ HS-ST
Ngày: 22/8/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

Thành phần Hô ̣i đồng xét xử gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lý và bà Phạm Thị Kim Loan;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Nhớ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 8 năm 2025, ta ̣i Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 06/8/2025 đối với bị cáo:

Trương Bảo V (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 03/3/1987, tại Gia Lai; giới tính: Nam; căn cước công dân số: 064087008838; nơi thường trú: Tổ A, phường Y (nay là phường D), tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Tổ G, phường I (nay là phường D), tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; bị cáo có vợ tên: Ngô Cẩm T2 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015;

Tiền án: Ngày 02/4/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (tại Bản án số 58/2024/HS-ST). Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội mới (ngày 19/3/2025), bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách án treo. Tiền sự: Không.

Bị cáo Trương Bảo V bị tạm giữ từ ngày 04/5/2025 đến ngày 07/5/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh G. (Bị cáo Trương Bảo V có mặt tại phiên toà).

Người tham gia tố tụng khác:

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Xuân A, sinh năm 1999. Địa chỉ: D Đ, tổ D, phường I ( nay là phường D), tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Cẩm T2, sinh năm: 1991; Địa chỉ: tổ G, phường I (nay là phường D), tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Bảo V đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng chưa được xóa án tích. Khoảng 01 giờ ngày 19/3/2025, V mang theo 01 chiếc tua vít đi bộ quanh khu vực phường I, thành phố P (nay là phường D, tỉnh Gia Lai), mục đích tìm nhà người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua quán trà sữa ENITEA của bà Nguyễn Thị Xuân A (sinh năm 1999) tại số D đường Đ, Tổ D, phường I, thành phố P (nay là phường D, tỉnh Gia Lai), V thấy không có người trông coi nên dùng tua vít mở tấm nhựa bên hông nhà, chui vào trong quán. V đến khu vực quầy pha chế, tìm thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy S7 Edge màu vàng đã cũ và số tiền 55.000 đồng nên lấy cất vào túi quần; V tiếp tục lấy 12 lon nước ngọt nhãn hiệu Bò Húc, 12 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting, 08 hủ sữa chua nhãn hiệu Ba Vì và 01 hộp sữa đặc nhãn hiệu Ngôi Sao loại 01 lít, cho vào bì ni lông màu đen, rồi theo lối cũ đi ra ngoài. Sau đó, V mang toàn bộ tài sản trộm cắp được về nhà ở hẻm H, tổ G, phường I (nay là phường D, tỉnh Gia Lai) cất giấu. Ngày 03/5/2025, bà A đến Công an phường I (nay là Công an phường D) trình báo vụ việc, giao nộp 01 USB chứa dữ liệu là video được trích xuất từ camera tại quán E. Đến khoảng 01 giờ ngày 04/5/2025, Công an phường I (nay là Công an phường D) đi tuần tra gặp V đang đi bộ ở khu vực phường I (nay là phường D) và có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở làm việc. Tại đây, V đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản tại quán E. Công an phường I (nay là Công an phường D) thu giữ của V 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy S7 Edge màu vàng và 01 tua vít. Qua xét nghiệm, V dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Qua trưng cầu, tại Kết luận định giá tài sản số 73 ngày 27/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, xác định: 12 lon nước ngọt nhãn hiệu Bò Húc có giá trị 136.000 đồng; 12 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting có giá trị 100.000 đồng; 08 hũ sữa chua nhãn hiệu Ba Vì có giá trị 40.000 đồng; 01 hộp sữa đặc nhãn hiệu Ngôi Sao loại 01 lít có giá trị 55.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy S7 Edge màu vàng có giá trị 600.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 608 ngày 17/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận: Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video được lưu trữ trong USB gửi giám định.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS, ngày 22/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai đã truy tố bị cáo Trương Bảo V về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Bảo V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trương Bảo V mà Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 50; Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử pha ̣t bi ̣ cáo Trương Bảo V từ: 06 (sáu) tháng đến 09(chín) tháng tù, về tội“Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Trương Bảo V không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

Đề nghị áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 58/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tổng hợp hình phạt chung để bị cáo chấp hành (trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến ngày 29/01/2024).

-Về xử lý vật chứng: 01 tua vít kích thước (19x3x3)cm là công cụ Trương Bảo V sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội Cơ quan điều tra chuyển theo vụ án, đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Riêng đối với 01 USB chứa dữ liệu là video được trích xuất từ camera tại quán E, Cơ quan điều tra niêm phong, đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án.

Bị hại bà Nguyễn Thị Xuân A đã nhận lại chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy S7 Edge màu vàng do bị cáo Trương Bảo V chiếm đoạt; đối với 12 lon nước ngọt nhãn hiệu Bò Húc, 12 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting, 08 hũ sữa chua nhãn hiệu Ba Vì, 01 hộp sữa đặc nhãn hiệu Ngôi Sao và 55.000 đồng, Trương Bảo V đã sử dụng hết, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được, hiện bị hại cũng không yêu cầu bị cáo Trương Bảo V phải bồi thường dân sự.

Bị cáo Trương Bảo V đã nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh G; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét sự vắng mặt của chị Nguyễn Thị Xuân A không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai người bị hại; kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/3/2025, tại quán trà sữa ENITEA, số D đường Đ, Tổ D, phường I, thành phố P (nay là phường D, tỉnh Gia Lai), bị cáo Trương Bảo V đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị Xuân A gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung S7 Edge màu vàng, 55.000 đồng, 12 lon nước ngọt nhãn hiệu Bò Húc, 12 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting, 08 hũ sữa chua nhãn hiệu Ba Vì và 01 hộp sữa đặc nhãn hiệu Ngôi Sao loại 01 lít. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 986.000đồng. Đến ngày 04/5/2025, bị cáo V đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Bảo V là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, tài sản chiếm đoạt trị giá 986.000 đồng, bị cáo V đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, cố tình phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đã bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…”.

Để có một mức án phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo V là người đang phải chấp hành án trong thời gian thử thách, không chấp hành pháp luật bị cáo còn sử dụng ma tuý, bản chất lười lao động muốn hưởng thành quả trên sức lao động của người khác, nên khi nhìn thấy ai sở hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã chớp ngay cơ hội để chiếm đoạt và đây cũng là mối lo lắng của nhân dân; vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục, cải tạo trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật, lao động chân chính và nhằm trấn an dư luận, cho nhân dân yên tâm làm ăn sinh sống, mặt khác là để răn đe cho những ai đang và có ý định xem thường pháp luật.

Tuy nhiên, sau phạm tội bị cáo đã “Đầu thú”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Gây thiệt hại không lớn” đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, phấn đấu trở thành một công dân tốt cho xã hội.

Căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết “ Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo” số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; tại bản án 58/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 bị cáo Trương Bảo V bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự chuyển sang hình phạt 06 tháng tù giam để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Trương Bảo V như Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

[3]. Đối với việc bị cáo Trương Bảo V trộm cắp nước ngọt, sữa chua, sữa đặc của bà Nguyễn Thị Xuân A mang về nhà cất giấu rồi sử dụng thì bà Ngô Cẩm T2 và các con của bị cáo V không biết rõ nguồn gốc, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với những người này là đúng quy định của pháp luật.

[4]. Đối với đối tượng tên T3 tại khu vực nghĩa trang thành phố P, phường I, thành phố P (nay là phường D, tỉnh Gia Lai) do bị cáo Trương Bảo V khai đã bán ma túy cho bị cáo để sử dụng, tuy nhiên bị cáo V không biết rõ nhân thân, lai lịch của T3; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường I (nay là Công an phường D) nhưng chưa phát hiện đối tượng nghi vấn, nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu có liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trương Bảo V đến Công an phường I (nay là Công an phường D) để xử phạt hành chính theo quy định.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi nhận lại tài sản chị Nguyễn Thị Xuân A không có yêu cầu gì thêm. Đối với 12 lon nước ngọt nhãn hiệu Bò Húc, 12 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting, 08 hũ sữa chua nhãn hiệu Ba Vì, 01 hộp sữa đặc nhãn hiệu Ngôi Sao và 55.000 đồng, Trương Bảo V đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu hồi được và chị Nguyễn Thị Xuân A cũng không có ý kiến bồi thường nên không đề cập giải quyết tại phần quyết định.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng là: 01 tua vít kích thước (19x3x3)cm là công cụ Trương Bảo V sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Riêng đối với 01 USB chứa dữ liệu là video được trích xuất từ camera tại quán E, Cơ quan điều tra niêm phong, đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án.

[8].Về án phí: Bị cáo Trương Bảo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Bảo V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Bảo V: 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2025 bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

-Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Gia Lai), tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo Trương Bảo V chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01(Một) năm tù, (trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến ngày 29/01/2024 của bản án 58/2024/HS-ST ngày 02/4/2024).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 tua vít kích thước (19x3x3)cm là công cụ Trương Bảo V sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Công an tỉnh G với Phòng Thi hành án Dân Sự khu vực 7 - Gia Lai).

- Về án phi:́ Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự̀

năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án) và Danh mục án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trương Bảo V phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghin đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

̀

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (22/8/2025), bị cáo Trương Bảo V có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Cẩm T2 có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Người bị hại chị Nguyễn Thị Xuân A vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp Quyết định, bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luâ ̣t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ