vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Ly B phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Ly B 05 (năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 16/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ly Băng phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Ly B phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 –VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Trọng Khôi.

2/ Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng H Minh – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Ly B, sinh năm 1982 tại xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay xã V, tỉnh Vĩnh Long); Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1954 và bà Trần Thị C, sinh năm 1959; vợ: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 12/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong); Ngày 01/4/2002 bị Chủ tịch Ủy Bn nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số 811/QĐ.UB về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người vi phạm hành chính thời gian giáo dục là 24 tháng (đã chấp hành xong).

Bị cáo tạm giữ từ ngày 16/4/2025, chuyển sang tạm giam từ ngày 19/4/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1954 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh V (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Văn H là ông Nguyễn Quang D – Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Trần Thị C, sinh năm 1959 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh V (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long).

2/ Bà Trần Thị B, sinh năm 1946 (vắng mặt)

3/ Bà Trần Thị S, sinh năm 1954 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long)

- Người làm chứng:

1/ Anh Hồ Xuân K, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long)

2/ Anh Phạm Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp V, xã V, tỉnh Vĩnh Long)

3/ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp B, xã T, tỉnh Trà Vinh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đặng Ly B là con ruột của ông Đặng Văn H và bà Trần Thị C, bị cáo thường xuyên sinh sống với 02 dì ruột là bà Trần Thị B và bà Trần Thị S. Khoảng 19 giờ ngày 18/02/2022, do đã uống rượu say nên nhớ lại chuyện bà Trần Thị B và bà Trần Thị S cho người khác thuê đất nhưng cho rằng cho thuê quá rẻ nên đã nói chuyện lớn tiếng với bà B và bà S đồng thời quậy phá, dùng tay lật mặt cái bộ ngựa trong nhà của bà B và bà S. Thấy vậy bà S gọi điện thoại báo cho ông H biết nên ông H điều khiển xe môtô chở theo bà C chạy đến gần nhà bà B nhưng bà C không vào nhà mà đến nhà người quen ở gần đó còn ông H đến nhà bà B la mắng rồi điều khiển xe môtô chở bà B và bà S về nhà ông H để tránh mặt , sau đó ông H quay lại để rước bà C, khi dừng xe ở trên lộ nhựa trước cửa nhà bà B thì ông H tiếp tục la mắng nên vào nhà lấy cái dao có sẵn trong nhà bà B đem ra đâm trúng hông sườn bên phải (vùng ngực phải) của ông H 01 cái làm ông H bị thương rồi đi vào nhà bà B nằm. Ông Đặng Văn H được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ.

Ngày 10/3/2022, ông Đặng Văn H làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Đặng Ly B về hành vi cố ý gây thương tích cho ông H vào ngày 18/02/2022.

Tại kết luận giám định số 89/2022/TgT ngày 10/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long, kết luận thương tích của ông Đặng Văn H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng ngực phải, đường nách giữa liên sườn IV dài 3 cm bờ sắc gọn, không phù nề miệng vết thương, do vật sắc gây ra thấu ngực bụng, thủng hoành phải, thủng gan hạ phân thùy V-VII, tràn dịch màng phổi phải được điều trị, khâu vết thương, khâu cơ hoành, cầm máu vết thương gan, dẫn lưu màng phổi phải. Tỷ lệ 32%;

- 03 sẹo vết mổ vùng bụng kích thước 1,5 x 0,2cm. Tỷ lệ 11%.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của do thương tích gây nên hiện tại là: 39% (B mươi chín phần trăm).

Ngày 26/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Ly B về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự nhưng Đặng Ly B bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 26/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra Đặng Ly B và ra Quyết định truy nã đối với Đặng Ly B .

Ngày 16/4/2025, Đặng Ly B đến Công an xã Vĩnh Xuân đầu thú. Ngày 18/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với Đặng Ly B .

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 (Một) cái dao (loại dao Thái Lan) dài 21 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có một mặt sắc, mũi nhọn.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Đặng Văn H không yêu cầu Đặng Ly B bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị C trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo và là người chăm sóc ông H nằm viện khi bị cáo gây thương tích, nay bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị B, Trần Thị S cùng trình bày: Không có yêu cầu gì đối với bị cáo và không yêu cầu nhận lại con dao bị cáo đã lấy gây thương tích cho ông H.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTÔ, ngày 25/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long) đã truy tố bị cáo Đặng Ly B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Đặng Ly B phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 16/4/2025.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cái dao (loại dao Thái Lan) dài 21 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có một mặt sắc, mũi nhọn.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/8/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên miễn xét.

Bị cáo Đặng Ly B đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tạm giữ tang vật, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giám định pháp y, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án theo như cáo trạng số 57/CT-VKSTÔ truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo đã biết lỗi và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại ông Đặng Văn H không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đối với trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị C trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo và là người chăm sóc ông H nằm viện khi bị cáo gây thương tích, nay bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị S: không có yêu cầu gì đối với bị cáo và không yêu cầu nhận lại con dao bị cáo đã lấy gây thương tích cho ông H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về trách nhiệm hình sự xử theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì đối với bị cáo, thống nhất như đề nghị Viện kiểm sát.

Bị hại ông H có ý kiến: Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Ôn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp lệ.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời trình bày và khai nhận của bị cáo Đặng Ly B tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng: Khoảng 19 giờ ngày 18/02/2022 tại ấp Vĩnh Thới, xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp Vĩnh Thới, xã Vĩnh Xuân, tỉnh Vĩnh Long), Đặng Ly B có hành vi dùng 01 (Một) cái dao, loại dao Thái Lan dài 21 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có một mặt sắc, mũi nhọn đâm trúng hông sườn bên phải (vùng ngực phải) của ông Đặng Văn H 01 cái gây thương tích cho ông Đặng Văn H với tỷ lệ thương tích là 39% (B mươi chín phần trăm). Bị cáo Đặng Ly B sử dụng 01 (Một) cái dao (loại dao Thái Lan) để đâm gây thương tích cho ông Đặng Văn H là hung khí nguy hiểm; ông Đặng Văn H là cha ruột của Đặng Ly B , vì vậy hành vi của Đặng Ly B đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết quy định tại điểm a và điểm d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 –Vĩnh Long) đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trong cáo trạng số 57/CT-VKSTÔ ngày 25/6/2025 về tội “Cố ý gây thương tích ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự cũng như lời luận tội của Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, dùng dao là hung khí nguy hiểm dâm vào hông sườn bên phải(vùng ngực phải) của bị hại ông H là cha ruột của bị cáo gây thương tích 39%, hậu quả là bị hại phải nằm điều trị tại Bệnh viện. Bị cáo có nhân thân không tốt ngày 01/4/2002 bị Chủ tịch Ủy Bn nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người vi phạm hành chính thời gian giáo dục là 24 tháng, tiếp đó ngày 12/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản sau khi chấp hành xong bị cáo tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo xem thường pháp luật.

Từ những nhận định trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, có thời gian cho bị cáo suy nghĩ lại những hành động sai trái đã làm, phấn đấu rèn luyện bản thân có cách cư xử, hành động đúng đắn hơn trong thời gian tới, cũng nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội, tránh được những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà nhận tội, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có cha ruột là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện đầu thú và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, khi quyết định hình phạt xem đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cái dao (loại dao Thái Lan) dài 21 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có một mặt sắc, mũi nhọn.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/8/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Vĩnh Long).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Ông Đặng Văn H không yêu cầu Đặng Ly B bồi thường nên miễn xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị C trình bày: Bà là người chăm sóc ông H nằm viện khi bị cáo gây thương tích, nay bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên miễn xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị B, Trần Thị S cùng trình bày: Bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo và không yêu cầu nhận lại con dao bị cáo đã lấy gây thương tích cho ông H nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xét lời trình bày của vị trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Long có căn cứ chấp nhận.

Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ so với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Ly B phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Ly B 05 (năm) năm 06 (S) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 16/4/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cái dao (loại dao Thái Lan) dài 21 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có một mặt sắc, mũi nhọn.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/8/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Vĩnh Long).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Ly B nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ