vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2024. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo L phạm tội TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 24-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử theo thủ tục rút gọn gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bạc Cầm L, sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Bạc Cầm Dực (đã chết); Con bà: Lường Thị Tiên; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Dương Thị Dung; Con: Có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ- Công an thị xã Việt Yên (có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Thế M, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố Quang Biểu, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

*Người làm chứng: Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố Tam Tầng, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Bạc Cầm L là đối tượng nghiện ma túy Heroine, sống lang thang tại thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoảng hơn 15 giờ ngày 19/12/2024, L đi bộ tới Khu công nghiệp Quang Châu ở thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, mục đích tìm ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền. Trên đường đi, L nhặt được 01 chiếc tuốc nơ vít bốn cạnh, cán bằng nhựa màu trắng- đỏ, chiều dài 23,5cm và 01 chìa khóa xe mô tô, chuôi bọc nhựa màu đen, có chữ “HONDA” dập chìm nên mang theo để dùng trộm cắp tài sản. Khoảng 16 giờ ngày 19/12/2024, L đi đến đoạn đường bờ mương thoát nước cạnh khu vực trạm xử lý nước thải Khu công nghiệp Quang Châu, thuộc địa phận phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, biển số 89F1-1009 (viết tắt là xe mô tô biển số 89F1-1009) là tài sản của anh Nguyễn Thế M, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố Quang Biểu, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang dựng trước đó để đi đổ bê tông mương nước. Thấy xung quanh không có người, L đi đến đứng sát xe mô tô biển số 89F1-1009 của anh M rồi dùng chìa khóa nhặt được trước đó cho vào ổ khóa điện vặn mở khóa. Mở được khóa điện, L ngồi lên xe đề xe nổ máy, điều khiển xe bỏ đi thì bị Công an Đồn Quang Châu đi tuần phát hiện. L điều khiển xe mô tô biển số 89F1-1009 đi được khoảng 150m thì bị Công an Đồn Quang Châu bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ xe mô tô L trộm cắp cùng 01 chìa khóa xe, 01 tuốc nơ vít nêu trên và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, số EMEI1: 351402860483166, EMEI2: 351402860438174, bên trong lắp sim điện thoại số 0967854158 rồi bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên, tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với L, kết quả L dương tính với chất ma túy MOP.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 203/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, biển số 89F1-1009 của anh M bị trộm cắp ngày 19/12/2024 trị giá 2.500.000 đồng.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 37/QĐ-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Bạc Cầm L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bạc Cầm L. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hành vi tính chất vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm L từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2024.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo L.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo L thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với vụ án này, bị cáo Bạc Cầm L thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Nên Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên đã ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án theo Điều 457 của Bộ luật tố tụng hình sự. Thành phần Hội đồng xét xử do một Thẩm phán tiến hành và không tiến hành nghị án theo Điều 463 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Điều 293; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp quả tang, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 19/12/2024 bị cáo Bạc Cầm L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, biển số 89F1-1009 của anh Nguyễn Thế M trị giá 2.500.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với hành vi nêu trên của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố theo thủ tục rút gọn đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công ty được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo L. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo L có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự gì.

Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống lang thang, không chịu làm ăn, thường xuyên tiếp xúc với các thành phần xấu trong xã hội, trong vụ án này phạm tội lỗi cố ý, tính chất tội phạm trộm cắp tài sản ngày càng gia tăng trên địa bàn nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Xét mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế M đã nhận lại xe mô tô bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 chìa khóa xe mô tô có phần chuôi bọc nhựa màu đen và chữ “HONDA” dập chìm; 01 tuốc nơ vít bốn cạnh cán bằng nhựa màu trắng đỏ có chiều dài 23,5cm là tài sản đồ vật dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy các vật này không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, số imei 1: 351402860483166, imei: 351402860438174, bên trong lắp sim điện thoại số 0967854158 là tài sản của bị cáo không sử dụng phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Các vấn đề khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: L khai nhận, tối ngày 18/12/2024, L đến đoạn đường giao thông ở tổ dân phố Núi Hiểu, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mua ma túy Heroine của người không biết tên tuổi, địa chỉ, không nhìn được mặt rồi tự sử dụng hết. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ người bán ma túy. Ngày 26/12/2024, Công an thị xã Việt Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo theo Điều 331; Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2024.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo L.

[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) chìa khóa xe mô tô có phần chuôi bọc nhựa màu đen và chữ “HONDA” dập chìm;

- 01(một) tuốc nơ vít bốn cạnh cán bằng nhựa màu trắng đỏ có chiều dài 23,5cm

* Trả lại cho bị cáo Bạc Cầm L: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, số imei 1: 351402860483166, imei: 351402860438174, bên trong lắp sim điện thoại số 0967854158. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Bạc Cầm L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của tố tụng hình sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ