- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý A S ly hôn chị Tẩn Tả M"
- Tòa quyết gì? Xử cho anh Lý A S được ly hôn chị Tẩn L M. Quan hệ hôn nhân của anh Lý A S và chị Tẩn L M chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2025/HNGĐ – ST Ngày 16 tháng 9 năm 2025. “ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Vũ Minh Huấn;
2. Ông: Sùng A Cở;
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2025/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025; Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lý A S, sinh ngày 16/4/1991;
Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn N, xã B, tỉnh Lào Cai).
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Tẩn L M, sinh ngày 14/02/1992.
Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn C, xã B, tỉnh Lào Cai).
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 24/6/2025 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn anh Lý A S trình bày:
Anh và chị Tẩn L M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 04/5/2010.
Sau khi đăng ký kết hôn, anh về ở dể nhà vợ tại thôn C, xã B sống hạnh phúc và sinh được 02 người con chung đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau, vợ chồng thường xuyên cải chửi nhau, năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, anh về thôn N, xã B để ở, thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Sau khi mâu thuẫn sảy ra gia đình hai bên đã hòa giải nhưng mâu thuẫn không khắc phục được, bản thân anh đã nhiều lần liên lạc với chị M để cùng thỏa thuận việc ly hôn nhưng chị M không đồng ý. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Tẩn L M.
Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 con chung, cháu thứ nhất Tẩn Thị D, sinh ngày 04/11/2010 và cháu thứ hai Tẩn Vần Ch, sinh ngày 10/6/2013, từ khi vợ chồng sống ly thân cả hai cháu đang sống với chị Tẩn L M. Khi ly hôn anh đồng ý để hai con chung cho chị Tẩn L M trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh và chị Tẩn L M không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Tẩn L M, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho chị M, nhưng chị từ chối nhận văn bản, chị M đã được nghe, đọc nội dung các văn bản tố tụng nhưng không ký nhận, Tòa án đã lập biên bản về việc từ chối nhận văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, mặc dù chị M đã biết được nội dung anh Lý A S khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn nhưng không có văn bản trả lời và không nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.
Đối với vụ án này Tòa án không hòa giải được vì anh Lý A S có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải.
Tại phiên toà:
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo quy định pháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện các quyền và ngh a vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy địnhvề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lý A S được ly hôn chị Tẩn L M.
Về con chung: Giao cả hai con chung, cháu thứ nhất Tẩn Thị D, sinh ngày 04/11/2010 và cháu thứ hai Tẩn Vần Ch, sinh ngày 10/6/2013 cho chị Tẩn L M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lý A S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Anh Lý A S được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Tẩn L M có địa chỉ tại thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn C, xã B, tỉnh Lào Cai). Như vậy Tòa án nhân dân Khu vực 7- Lào Cai thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Anh Lý A S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Tẩn L M vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lý A S và chị Tẩn L M.
Anh Lý A S và chị Tẩn L M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 04/5/2010 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.
Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:
Theo nguyên đơn trình bày thì sau khi đăng ký kết hôn, anh về ở rể nhà vợ tại thôn C, xã B sống hạnh phúc và sinh được 02 người con chung đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau, thường xuyên cải chửi nhau, năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, anh về thôn N, xã B để ở, thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên đã hòa giải nhưng mâu thuẫn không khắc phục được, bản thân anh đã nhiều lần liên lạc với chị M để thỏa thuận việc ly hôn nhưng chị M không đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn của anh S và chị M là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do anh S cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương. Nay anh S xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của anh S, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho anh Lý A S đựợc ly hôn chị Tẩn L M.
Về con: Anh Lý A S và chị Tẩn L M sinh được 02 con chung, cháu thứ nhất Tẩn Thị D, sinh ngày 04/11/2010 và cháu thứ hai Tẩn Vần Ch, sinh ngày 10/6/2013. Anh S đồng ý để chị M nuôi cả hai con chung đến tuổi trưởng thành.
Xét thấy quá trình giải quyết chị Tẩn L M không đến Tòa án, tại biên bản xác minh về điều kiện nuôi con thì thu nhập của chị M là lao động tự do tại địa phương từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày, hiện cả hai cháu từ khi vợ chồng sống ly thân năm 2017 đều đang sống với chị Tẩn L M, quá trình sống tại nơi cư trú chị Mẩy thực hiện tốt ngh a vụ công dân, khi hỏi ý kiến của các cháu Tẩn Thị D và Tẩn Vần Ch, thì các cháu có nguyện vọng muốn ở với chị Tẩn L M, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Lý A S, giao cả hai con chung cho chị Tẩn L M nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung:
Quá trình giải quyết vụ án chị Tẩn L M không đến Tòa án và cũng không có văn bản trả lời về việc nuôi con chung, vì vậy tạm thời anh Lý A S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Anh Lý A S không yêu cầu Toà án giải quyết, trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Anh Lý A S có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ vào đơn xin miễn án phí và Giấy chứng nhận hộ nghèo hộ cận nghèo số ngày 06/01/2025 do Ủy ban nhân dân xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai cấp thì hộ anh Lý A S là hộ nghèo.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Anh Lý A S được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử cho anh Lý A S được ly hôn chị Tẩn L M. Quan hệ hôn nhân của anh Lý A S và chị Tẩn L M chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con: Chị Tẩn L M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tẩn Thị D, sinh ngày 04/11/2010 và cháu thứ hai Tẩn Vần Ch, sinh ngày 10/6/2013 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời anh Lý A S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Lý A S có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Lý A S được miễn án phí dân sự sơ thẩm.Hoàn trả lại cho anh Lý A S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000229, ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Lào Cai; - VKSND Khu vực 7 - Lào Cai (2); - Đương sự (2); - UBND xã B; - THA dân sự tỉnh Lào Cai; - Lưu TA,VP, HS. TP Hoàng Duy Chiến báo cáo vụ án HNGĐ 1.Nguyên đơn: Anh Lý A S, sinh ngày 09/10/2000; là thôn Tả Phìn, xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai). 2.Bị đơn: Chị Tẩn L M, sinh ngày 10/6/1996. là thôn Tả Phìn, xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai). NỘI DUNG VỤ ÁN 18/9/2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay là xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 18, ngày 18/9/2020. sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lử ham chơi không tu chí làm ăn, không tập chung xây dựng kinh tế gia đình, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh Lử không thay đổi, mặt khác anh Lử còn thường xuyên uống rượi, mỗi khi uống rượi về nhà là anh Lử gây sự, chửi mắng chị, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và không tôn trọng nhau, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Sín Chải, xã Dền Thàng để ở từ tháng 6/2023. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với Chị Tẩn L M. cháu thứ nhất là Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu thứ hai Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020, hiện cả hai cháu đang sống với Chị Tẩn L M từ khi vợ chồng sống ly thân. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tại bản khai ngày 16/5/2025 chị đã thay đổi và đồng ý để con cho Chị Tẩn L M trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, vì lý do chị thường xuyên đi làm xa nhà không có điều kiện chăm sóc con. cháu là 500.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Lử, anh Lử đã được nghe đọc nội dung các văn bản tố tụng nhưng từ chối ký nhận văn bản, mặt khác khi Tòa án đến tống đạt các văn bản tố tụng thì anh Lử có lần vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã phải lập biên bản về việc từ chối nhận văn bản tố tụng và niêm yết theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Lử đã biết được nội dung Anh Lý A S khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn nhưng không có văn bản trả lời và không nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án. QUAN ĐIỂM 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: Lý A S và Chị Tẩn L M chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. cháu Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. dưỡng tiền nuôi con chung cho hai cháu Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020, mỗi cháu là 500.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 1 Điều 357, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. trở. 3. Về án phí: Anh Lý A S được miễn án phí dân sự sơ thẩm. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Duy Chiến Địa chỉ: Thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay Địa chỉ: Thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay Chị và Chị Tẩn L M về ở với nhau như vợ chồng từ năm 2017. Đến ngày Sau khi đăng ký kết hôn, anh, chị sống với nhau đến năm 2021 thì phát Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 con chung, Về cấp dưỡng nuôi con chị đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi Về nợ chung: Chị và Chị Tẩn L M không nợ ai và không cho ai vay, vì Đối với bị đơn Chị Tẩn L M, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho anh Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 1. Xử cho Anh Lý A S được ly hôn Chị Tẩn L M. Quan hệ hôn nhân của Anh 2. Về con: Chị Tẩn L M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lý A S phải có trách nhiệm cấp Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi Anh Lý A S có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản |