- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H P và Y P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H P.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/9/2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị H P và anh Y P” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xuân Thành;
2. Bà H Loan Uông.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2025 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị H P, sinh năm 1994, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Buôn D, phường C, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Y P, sinh năm 1995, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Buôn S, xã N, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị H P trình bày nội dung như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H P và anh Y P là vợ chồng chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2016, sau khi sống chung thì hai người có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng tiếp tục chung với nhau tại buôn S, (xã Ea R, huyện L), nay là xã N, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng cuối tháng 01/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, anh Y P không quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống gia đình, vợ con nên hai người sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không muốn tiếp tục sống chung với nhau nữa nên chị H P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y P.
- Về con chung: Chị H P xác định quá trình chung sống chị với anh Y P có 01 con chung là H M, sinh ngày 24/11/2017, kể từ khi hai người sống ly thân cho đến nay con chung đang do chị H P chăm sóc, nuôi dưỡng, nay ly hôn thì chị H P có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến đủ tuổi thành niên. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng thì không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Y Phú H:
Quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo và triệu tập hợp lệ cho anh Y P tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh Y P đều vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc chị H P khởi kiện yêu cầu ly hôn, phiên tòa lần thứ hai vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
* Theo biên bản xác minh ngày 05 tháng 8 năm 2025 tại buôn S, xã N, tỉnh Đắk Lắk có nội dung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H P, sinh năm 1994 và anh Y P, sinh năm 1995, địa chỉ: Buôn S, xã N, tỉnh Đắk Lắk là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27/12/2017 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn hai người chuyển đến chung sống với nhau tại buôn S, xã E, huyện L, (nay là xã N), tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 1 năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, có những lúc xảy ra xô xát. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hiện tại hai người sống ly thân từ đó cho đến nay, anh Y P vẫn cư trú tại địa phương, buôn S, xã N, tỉnh Đắk Lắk, còn chị H P đã chuyển về buôn Dũt 2, xã B, thị xã B, (nay là phường C), tỉnh Đắk Lắk sinh sống. Công việc của hai người chủ yếu làm nông, đủ đáp ứng cuộc sống hằng ngày và nuôi con chung.
Về con chung: Quá trình chung sống chị H P và anh Y P có 01 con chung là H M, sinh ngày 24/11/2017. Hiện tại con chung đang sống chung với chị H P phát triển bình thường.
* Theo phiếu cung cấp thông tin về nơi cư trú của Công an xã N vào ngày 12/9/2025 xác nhận anh Y P có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx có nơi thường trú tại buôn S, xã N, tỉnh Đắk Lắk.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk phát biểu:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Nam Ka, tỉnh Đắk Lắk do vậy Tòa án nhân dân Khu vực 6 đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS để thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng thẩm quyền theo quy định của BLTTDS.
- Về tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng: Ngày 16/7/2025, Chị H P gởi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y P. Vì vậy việc Tòa án căn cứ vào Điều 68 BLTTDS xác định chị H P là nguyên đơn, anh Y P là bị đơn là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về việc gửi thanh báo thụ lý vụ án: Ngày 21/7/2025 TAND Khu vực 6 đã gửi thanh báo thụ lý số 14/2025/TB-TLVA ngày 16/7/2025 cho Viện kiểm sát và các đương sự là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc gửi thông báo phiên hòa giải: TAND Khu vực 6 đã ra thanh báo phiên hòa giải, gửi thanh báo phiên hòa giải cho các đương sự đúng theo quy định của pháp luật.
- Thu thập chứng cứ: Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 97 của BLTTDS.
- Thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu: Tòa án đã tiến hành thụ lý giải quyết vụ án từ ngày 16/7/2025 đến ngày 25/8/2025 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát là đúng thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 và Điều 221 BLTTDS.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án bị đơn cố tình vắng mặt không đến Tòa án để làm việc, nên không hoà giải được, như vậy bị đơn đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, được quy tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà lần hai nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, phải tự nguyện yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; phải có sự tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ và đảm bảo gia đình hòa thuận, hạnh phúc thì các thành viên trong gia đình mới có điều kiện để phát triển bản thân. Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân chị H P và anh Y P đã không còn tình cảm với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác anh Y P cố tình vắng mặt không đến Tòa án để làm việc, nên không hoà giải được nên yêu cầu ly hôn của chị H P, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của H P.
- Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu H M cho chị H P trực tiếp nuôi dưỡng và chị H P không yêu cầu anh Y P cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn chị H P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y P là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Y P đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản và triệu tập tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng đều vắng mặt không có ý kiến phản hồi gì. Tại phiên tòa lần hai tiếp tục vắng mặt không có lý do, vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, HĐXX thực hiện việc xét xử vắng mặt anh Y P.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H P và anh Y P là vợ chồng chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2016 nhưng đến năm 2017 thì mới thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27/12/2017 là đúng thực tế vì quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn xuất trình và cung cấp giấy chứng nhận kết hôn bản chính do Ủy ban nhân dân xã B, mặt khác chính quyền địa phương cũng xác nhận sự việc này tại biên bản xác minh ngày 05/8/2025. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, sau khi kết hôn hai người tiếp tục sống chung với nhau tại buôn S, (xã Ea R, huyện Lắk), nay là xã N, tỉnh Đắk Lắk nhưng đến cuối tháng 01 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, anh Y P không quan tâm đến cuộc sống gia đình, làm cho tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ đó cho đến nay, do đó chị H P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y P là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết việc tranh chấp Tòa án đã phân tích, hòa giải để chị H Phương về đoàn tụ gia đình nhưng chị H P vẫn không thay đổi, kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn. Còn đối với anh Y P không tham gia tố tụng nhưng cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc chị H Phương khởi kiện ly hôn và cũng không thể hiện thiện chí của sự níu kéo, động viên, khuyên bảo chị H P thay đổi, không tham gia tố tụng, vắng mặt tại các phiên tòa. HĐXX xét thấy tình cảm vợ chồng không thể cải thiện, mâu thuẫn kéo dài không khắc phục được, chị H P và anh Y P vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H P và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, giải quyết cho chị H P ly hôn anh Y P.
Về con chung: Chị H P xác định quá trình chung sống với anh Y P hai người có 01 con chung tên H M, sinh ngày 24/11/2017 là có căn cứ vì chính quyền địa phương cũng đã xác nhận sự việc này tại biên bản xác minh ngày 05/8/2025 và những thông tin trên các tài liệu, chứng cứ mà đương sự giao nộp có lưu trong hồ sơ vụ án. Nay ly hôn nguyên đơn có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến đủ tuổi thành niên, HĐXX xét thấy quá trình giải quyết việc tranh chấp anh Y P không có ý kiến phản hồi gì, hiện tại con chung đang do chị H P chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác, chị H P là người có đủ năng lực trách nhiệm về dân sự, có khả năng lao động để tạo ra nguồn thu nhập, đảm bảo việc trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, mặt khác cháu H M cũng có nguyện vọng sống chung với chị H P. Do đó để đảm bảo sự phát triển ổn định và duy trì cuộc sống lâu dài của con chung, HĐXX quyết định giao con chung H M cho chị H P có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tiền tạm ứng án phí và án phí: Chị H P là người nộp đơn khởi kiện giải quyết việc ly hôn nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 6 - Đắk Lắk.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144; 147; 203; 220; 227; 228; 266; 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.
Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và 83 luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí của Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H P ly hôn anh Y P.
2. Về con chung: Chị H P và anh Y P có 01 con chung là H M, sinh ngày 24/11/2017.
- Giao con chung H M, sinh ngày 24/11/2017 cho chị H P có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ tuổi thành niên.
- Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Sau khi ly hôn anh Y P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí và tạm ứng án phí: Chị H P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 6 - Đắk Lắk theo biên lai thu số 0006798 ngày 15 tháng 7 năm 2025. Chị H P đã nộp xong tiền án phí, anh Y P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 2 luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 6 - Đắk Lắk; - UBND phường C, tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Công Cường |