vanban.org

Bản án 21/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P được ly hôn bà Nguyễn Thị Tuyết N. Về con chung: Con chung Nguyễn Bảo Minh Q, sinh ngày 24/02/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Giao con chung Nguyễn Bảo Quốc T, sinh ngày 09/01/2012 cho ông Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng. Do ông Nguyễn Văn P… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn P - Nguyễn Thị Tuyết N "Ly hôn""
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2025
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và bà Đào Thị Ngâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, về tranh chấp“Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1982; Địa chỉ: khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P3, phường P, tỉnh Đắk Lắk).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1983; Địa chỉ: khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P3, phường P, tỉnh Đắk Lắk).

Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Tuyết N kết hôn vào ngày 04/4/2005 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk). Quá trình chung sống, đến tháng 12/2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bà N có hành vi ngoại tình với người khác. Từ tháng 01/2025 cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung; hiện tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông P làm đơn xin ly hôn với bà N.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bảo Minh Q, sinh ngày 24/02/2006 và Nguyễn Bảo Quốc T, sinh ngày 09/01/2012. Hiện 02 con đang sống cùng ông P. Ly hôn ông P xin được trực tiếp nuôi con Nguyễn Bảo Quốc T, không yêu cầu cấp dưỡng. Cháu Q đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã tiến hành hòa giải nhưng không được.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn P được ly hôn bà Nguyễn Thị Tuyết N. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo Quốc T cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con; con chung Nguyễn Bảo Minh Q đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P và bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) vào năm 2005, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự trình bày. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 01/2025 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai; vợ, chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng 02 con chung là Nguyễn Bảo Minh Q, sinh ngày 24/02/2006 và Nguyễn Bảo Quốc T, sinh ngày 09/01/2012. Con chung Nguyễn Bảo Minh Q đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện con chung Nguyễn Bảo Quốc T đang sống cùng với nguyên đơn. Ly hôn nguyên đơn xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của con nên chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu nên bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P được ly hôn bà Nguyễn Thị Tuyết N.

- Về con chung: Con chung Nguyễn Bảo Minh Q, sinh ngày 24/02/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Giao con chung Nguyễn Bảo Quốc T, sinh ngày 09/01/2012 cho ông Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng. Do ông Nguyễn Văn P không yêu cầu nên bà Nguyễn Thị Tuyết N không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị Tuyết N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005885 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ