vanban.org

Bản án 21/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lâm Thị T được ly hôn với bị đơn ông Lý H. 2. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST ngày: 03 tháng 3 năm 2025, V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”; Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Tiền - Bị đơn: Ông Lý…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03 – 3 – 2025
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

2. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị T.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lý H.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 02-12-2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lâm Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị H và ông Lý H quen biết nhau đưa đến hôn nhân, tự nguyện tổ chức lễ cưới năm 2013, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng ngày 20 tháng 8 năm 2014, quá trình chung sống có 02 con chung. Sau khi kết hôn, ông H về sống bên vợ tại số nhà X, ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng, hạnh phúc được khoảng hai năm thì ông H đam mê cờ bạc, đưa đến nợ nần chồng chất, tiếp diễn bạo lực gia đình, phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, lâu dần tình cảm vợ chồng rạn nứt nên bà T và ông H đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nhận thấy không đạt được hạnh phúc trong hôn nhân nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà T và ông H có 02 người con chung tên Lý Minh U, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015, và Lý Minh E, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2017, hiện hai con đang sống với bà H tại số nhà 197/66, ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Đối với bị đơn: Ông Lý H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia tố tụng, nhưng ông H đều vắng mặt không lý do, cũng không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ và văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T.

3. Ý kiến của con chung:

Trong biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên, em Lý Minh U, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015, và Lý Minh E, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2017, sinh ngày 22-01-2025 có nguyện vọng được sống với bà Lâm Thị T.

4. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn ông Lý H chưa chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án: Có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, do bị đơn có nơi cư trú tại ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng, nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn là bà Lâm Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Lý H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ hai lần, nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của các đương sự không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T và ông Lý H được Ủy ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 8 năm 2014. Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, nhưng ông Lý H đều vắng mặt; bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vì cho rằng ông, bà không còn chung sống với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H. Vì vậy, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T với ông H có 02 con chung tên tên Lý Minh U, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015 và Lý Minh E, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2017, hiện hai con đang sống với bà H. Bà T yêu cầu giao 02 con chung cho bà T nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà không yêu cầu ông Lý H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà T; bên cạnh đó, thì cháu Lý Minh U và Lý Minh E cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T. Vì vậy, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung; đồng thời cũng nhằm ổn định cuộc sống cho hai cháu, nên cần giao cháu Lý Minh U và Lý Minh E cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung tròn 18 tuổi.

Ông Lý H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng; ông H cũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định của khoản 1 và 2 Điều 81; khoản 1 và 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông H không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số T tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014; khoản 1 Điều 56, khoản 1 và 2 Điều 81; khoản 1 và 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lâm Thị T được ly hôn với bị đơn ông Lý H.

1.2. Về con chung:

- Giao con chung tên Lý Minh U, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015 và Lý Minh E, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2017 cho bà Lâm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lý Minh U và Lý Minh E tròn 18 (mười tám) tuổi.

- Ông Lý H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Lý Minh U và Lý Minh E được sống chung với ông Lý H; Ông Lý H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Lý Minh U và Lý Minh E được sống chung với bà Lâm Thị T.

- Ông Lý H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Ông Lý H không phải cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số T tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008307 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Toà án tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ