- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đồi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HNGĐ − ST Ngày: 26-8-2025. V/v: Tranh chấp về thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – LÂM ĐỒNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mận.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Thông Phi;
Bà Phan Thị Thắng.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 180/2025/TLST – HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 11 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Đăng K, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm C, thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Xóm C, thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận). Có mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thu M, sinh năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận); chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã S, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – anh Võ Đăng K trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Anh Võ Đăng K và chị Phạm Thị Thu M trước đây là vợ chồng. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh K và chị M đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 89/2021/QĐST – HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh (nay là Toà án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng). Tại thời điểm ly hôn thì anh K và chị M đã thống nhất thuận tình ly hôn với nhau. Về con chung giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người con chung Võ Đăng K1, sinh ngày 01/01/2019, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn cháu K1 được chị M và ông bà ngoại chăm sóc, anh K vẫn thực hiện trách nhiệm thăm nom, chăm sóc con và chu cấp cho con bằng hình thức mua các nhu yếu phẩm cần thiết cho con và mua các đồ dùng, vật dụng khác khi con có nhu cầu.
Hiện nay anh K yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị M phải giao con Võ Đăng K1 lại cho anh K nuôi vì các lý do như sau: Hiện tại chị M đã kết hôn với người khác và có gia đình riêng; chị M không trực tiếp nuôi con mà giao cho ông bà ngoại và cậu chăm sóc; gia đình chị M cản trở không cho anh K gặp và chăm sóc con. Trong khi đó bản thân anh K có đủ điều kiện để nuôi con, cụ thể hiện có nhà ở và nguồn thu nhập ổn định nên đảm bảo cho việc nuôi con. Bên cạnh đó anh K đang sống chung với mẹ ruột và em gái của mình, những người này sẽ phụ giúp anh K trong việc chăm sóc cho cháu K1.
Chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp: Không có.
Bị đơn chị Phạm Thị Thu M trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị M và anh K trước đây là vợ chồng nhưng do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh chị đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 89/2021/QĐST – HNGĐ, Ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã giao cho chị M được trực tiếp nuôi người con chung Võ Đăng K1, sinh ngày 01/01/2019 cho đến khi thành niên.
Sau khi ly hôn chị M thực hiện đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của một người mẹ, chăm lo đầy đủ về vật chất và tinh thần cho con. Hiện nay chị M đã lập gia đình mới nhưng cháu K1 vẫn chung sống vui vẻ với gia đình hiện tại. Việc cháu K1 đang chung sống với ông bà ngoại là do nguyện vọng của cháu muốn tiếp tục ở với ông bà và học tập tại môi trường mà cháu đã quen với bạn bè. Bản thân chị M vẫn dành thời gian để chăm sóc cho con nên về thể chất và tinh thần của cháu K1 vẫn phát triển bình thường.
Chị M không đồng ý với yêu cầu thay đổi nuôi con của anh K, không đồng ý giao con cho anh K nuôi vì các lý do: Anh Khoa không làm tròn trách nhiệm của người cha đối với con của mình, anh K ít dành thời gian chăm sóc con, ngay cả khi vợ chồng còn chung sống, anh K đi làm về thường đi ăn nhậu với bạn bè ít khi quan tâm chăm sóc con; Môi trường sống của gia đình anh K không tốt cho tinh thần của con vì anh K từng có hành vi gây rối trật tự xã hội đã bị chính quyền địa phương xử lý, anh K luôn có những phát ngôn không chuẩn mực với những người xung quanh, anh K luôn dùng bạo lực để giải quyết tất cả.
Chứng cứ bị đơn cung cấp: Không có.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến cũng như quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70 BLTTDS về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 và các Điều 146, 147, 203, 227, 228 BLTTDS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của anh Võ Đăng K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Việc nuôi con Võ Đăng K1, sinh ngày 01/01/2019 được thực hiện theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 89/2021/QĐST-HNGĐ ngày 15/6/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh.
Về án phí: Anh Khoa phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đã nộp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Võ Đăng K yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Các đương sự đều không có yêu cầu nào khác; Bị đơn chị Phạm Thị Thu M hiện đang sinh sống tại xã S, tỉnh Lâm Đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Nghị quyết thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa các đương sự đều có mặt đầy đủ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – anh Võ Đăng K:
Tại phiên tòa, anh Võ Đăng K vẫn giữ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể là anh K yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Võ Đăng K1. Căn cứ để yêu cầu thay đổi người nuôi con của anh K là: Hiện nay chị Phạm Thị Thu M đã kết hôn và lập gia đình mới nên không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Võ Đăng K1 mà giao cho ông bà ngoại và cậu của cháu chăm sóc; ông bà ngoại và cậu của cháu ngăn cản không cho anh K gặp và chăm sóc cháu K1.
Chị Phạm Thị Thu M không chấp nhận yêu cầu của anh K vì cho rằng sau khi ly hôn chị M được giao quyền nuôi con Võ Đăng K1. Trong thời gian qua chị M đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm chăm lo cho con đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, hiện tại chị M đã kết hôn nhưng chị M và ông bà ngoại của cháu vẫn chăm sóc và nuôi dạy cháu phát triển bình thường.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 89/2021/QĐST – HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã giao cho chị M được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng người con chung Võ Đăng K1, sinh ngày 01/01/2019. Sau khi ly hôn các đương sự đã thực hiện đúng theo quyết định. Tại phiên toà, anh K và chị M đều xác nhận: Hiện nay cháu Võ Đăng K1 vẫn được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ nên cháu phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần.
Lý do anh K yêu cầu thay đổi người nuôi con là: Hiện nay chị M kết hôn với người khác đã có con riêng, không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K1 mà giao cho ông bà ngoại và cậu của cháu chăm sóc nuôi dưỡng; giữa anh K và ông bà ngoại của cháu K1 trước đây có những mâu thuẫn xung đột với nhau nên sau khi ly hôn thì gia đình bên ngoại của cháu K1 có hành vi cản trở không cho anh K thăm con cho nên anh K không trực tiếp thăm và chu cấp cho con mà thông qua em gái của anh K liên hệ đón cháu về để chăm sóc và mua các nhu yếu phẩm chu cấp cho con. Hơn nữa, bản thân anh K hiện nay có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con như: có nhà ở, công việc và thu nhập ổn định, bên cạnh đó có bà nội và cô ruột của cháu phụ chăm sóc.
Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Sau khi ly hôn với anh K, chị M và cháu K1 chung sống cùng gia đình bên ngoại, cháu K1 được chăm sóc đầy đủ phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Khoảng hơn hai năm nay chị M kết hôn với người khác chuyển nơi cư trú về xã S. Sau khi chị M kết hôn, cháu K1 vẫn chung sống với gia đình bên ngoại, chị M cũng thường xuyên qua lại chăm sóc cháu. Hiện tại cháu K1 cũng được chăm sóc đầy đủ và phát triển bình thường. Bản thân chị M là người có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc cháu K1 có đầy đủ điều kiện tiếp tục nuôi cháu K1.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết theo sự thoả thuận của cha mẹ phù hợp với lợi ích của con hoặc khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Hiện tại, cháu Võ Đăng K1 đang được chị M và ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, chị M và gia đình bên ngoại vẫn đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Mặt khác, xét thấy từ thời điểm chị M và anh K ly hôn cháu K1 sinh sống và học tập ổn định tại xã Đ (nay là xã Đ), do đó cần duy trì môi trường sống và học tập của cháu để cháu phát triển ổn định về tinh thần.
Từ sự phân tích trên, xét thấy: Để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của cháu Võ Đăng K1 cần tiếp tục giao cháu K1 cho chị Phạm Thị Thu M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh Võ Đăng K là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về án phí: Do yêu cầu của anh Võ Đăng K không được chấp nhận nên cần buộc anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 28; Khoản 1 Điều 39; các điều 146, 147, 203, Điều 227, 228; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
-Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;
- Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Nghị quyết thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;
- Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Đăng K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Võ Đăng K1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019.
Việc trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Đăng K1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019 thực hiện theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 89/2021/QĐST – HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh (nay là Toà án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng).
Về án phí:
- Anh Võ Đăng K phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà anh K đã nộp theo biên lai số 0001821 ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh (nay là Phòng thi hành án khu vực 16). Anh Khoa đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/8/2025 (đã giải thích quyền kháng cáo).
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 16 – Lâm Đồng; - Các đương sự để thi hành; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; - Lưu VP, HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mận |