- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thái K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HN-ST Ngày: 26-02-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Phú Chánh Thể
2. Ông Nguyễn Thanh Khoa
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 590/2024/TLST –HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/02/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: số 484, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).
2. Bị đơn: anh Trần Thái K, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp M, xã L, huyện G, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI D VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày:
Chị và anh Trần Thái K kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh B vào ngày 07/02/2009 (số 04, quyển số 1/2009).
Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau tại ấp M, xã L, huyện G, tỉnh B. Thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc, công việc mỗi người đều ổn định. Nhưng đến khoảng đầu năm 2024, cuộc sống chung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, gia đình hai bên không hòa hợp, ngày càng nghiêm trọng và không thể hàn gắn được nữa. Hiện nay, chị tự nhận thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc, tinh cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh K.
Con chung: Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 và Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh K cấp dưỡng. Và anh K sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị xin không cấp dưỡng nuôi cháu H.
Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có.
Quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Thái K vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Phạm Thị D.
* Tại phiên tòa:
Chị Phạm Thị D vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Anh Trần Thái K vắng mặt không lý do
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện; các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý; Tòa án đã tiến hành thủ tục thủ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án, không vi phạm về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn chị D thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn anh K chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Về nội D: căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị D.
+ Về hôn nhân: chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thái K.
+ Về con chung: giao cháu Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D, anh K không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn chị Phạm Thị D vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Thái K mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội D:
Về hôn nhân: chị Phạm Thị D và anh Trần Thái K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh B vào ngày 07/02/2009 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Theo nguyên đơn chị D trình bày, thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc, công việc mỗi người đều ổn định. Nhưng đến khoảng đầu năm 2024, cuộc sống chung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, gia đình hai bên không hòa hợp, ngày càng nghiêm trọng và không thể hàn gắn. Hiện tại hai bên đã sống ly thân, tình cảm không còn. Bị đơn anh K không tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị D và vắng mặt tại phiên tòa. Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: ”… Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau….”. Như vậy, có căn cứ xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị D là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 và Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian chị D, anh K sống ly thân, cháu Hng ở với chị D; cháu H ở với anh K, cuộc sống hai cháu cũng đã ổn định. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 22/01/2025, cháu H có nguyện vọng ở với cha. Quá trình tố tụng, anh K cũng không có ý kiến khác. Do đó xét yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Hng của chị D và giao cháu H cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị D tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu Hng. Riêng việc cấp dưỡng nuôi cháu H, do anh K không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị D trình bày không có.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Phạm Thị D phải nộp số tiền là 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thái K.
2/- Con chung: Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 và Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018.
Giao Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, do anh K không có yêu cầu nên không xem xét.
Giao Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị D tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu Hng.
Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Hng; chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H; không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3/- Tài sản chung: chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4/- Nợ chung: chị D trình bày không có.
5/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Phạm Thị D phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007442 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị D đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Đặng Thị Ngọc Duyên
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B - VKSND huyện; - Chi cục THA huyện; - UBND xã L (G, B); - Các đương sự; - Lưu. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút ngày 26 tháng 02 năm 2025. Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện G. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phú Chánh Thể 2. Ông Nguyễn Thanh Khoa HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa các đương sự: T, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn). tỉnh B (vắng mặt). phiên tòa, quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. K. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). ngày 08/7/2018. sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, do anh K không có yêu cầu nên không xem xét. chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị D tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu Hng. thăm nom cháu H; không ai được cản trở. việc cấp dưỡng nuôi con. gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). không xem xét. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). 4/- Nợ chung: chị D trình bày không có. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007442 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị D đã nộp xong. Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%). Nghị án kết thúc lúc giờ 00 phút ngày 26/02/2025. cùng nghe và ký tên dưới đây. CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM BIÊN BẢN GIAO NHẬN Tại: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện G * Bên giao: bà Đặng Thị Ngọc Duyên – Thẩm phán kiểm sát nhân dân huyện G. huyện G (Phạm Thị D – Trần Thái K). Hai bên được nghe, đọc biên bản và đồng ý ký tên Biên bản kết thúc vào hồi ……. giờ …….. phút cùng ngày. Người giao Đặng Thị Ngọc Duyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 590/2024/TLST – 1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: số 484, ấp H, xã 2. Bị đơn: anh Trần Thái K, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp M, xã L, huyện G, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thái 2/- Con chung: Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 và Trần Thái Hng, sinh Giao Trần Thái H, sinh ngày 19/7/2011 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm Giao Trần Thái Hng, sinh ngày 08/7/2018 cho chị D trực tiếp trông nom, Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Hng; chị D có quyền, nghĩa vụ Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy 3/- Tài sản chung: chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên 5/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Phạm Thị D phải nộp số Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ Biên bản nghị án đã được đọc lại cho các thành viên trong Hội đồng xét xử THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Duyên Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hôm nay, vào hồi …………giờ …. phút, ngày ….tháng …. năm 2025. * Bên nhận: ……………………………………………- ……………Viện Tiến hành giao nhận: Bản án số 21/2025/HN-ST ngày 26/02/2025 của TAND Người nhận ,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,, |