- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Côn ty T - Lưu Trung H"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/DS - ST. Ngày: 28 - 3 - 2025. “V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Rực.
2. Bà Trần Thị Thanh Nhanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST - DS, ngày 03 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S (sau đây gọi tắt là: Công ty); trụ sở chính: 128 N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diệp hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Lam T, sinh năm 1997; địa chỉ: Số D L, Phường C, thành phố S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo Giấy ủy quyền số 447/2024/UQ-SVN ngày 01/02/2024) (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lưu Trung H, sinh năm 1990, địa chỉ: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 16/12/2024, nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay trình bày:
Vào ngày 28/10/2024, ông Lưu Trung H có đến chi nhánh thành phố S 1 của Công ty cổ phần S (sau đây gọi tắt là: Công ty) tại địa chỉ: Số D L, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: STM241001030NA2X được ký giữa các bên ngày 28/10/2024 số đăng ký Giao dịch đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap theo web https://dktructuyen.moj.gov.vn/ thì ông Lưu Trung H cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh biển kiểm soát 83Z1-134.59, loại xe Wave AlPha, màu: Đen, số khung RLHJA3925NY727621, số máy JA39E2919785; số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 000384 do Công an thị trấn Đ cấp ngày 06/01/2023. Để lấy số tiền là 6.542.553 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm năm mươi ba đồng); thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ 28/10/2024 – 28/10/2025) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông Lưu Trung H.
Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho ông Lưu Trung H mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 28/10/2024 đến ngày 28/11/2024 địa điểm trả xe là tại chi nhánh thành phố S. Ông Lưu Trung H có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.
Quá trình trả nợ, ông Lưu Trung H chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty. Từ ngày 28/12/2024 đến nay đã vi phạm thời hạn trả, tuy nhiên, ông Lưu Trung H không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà ông Lưu Trung H tại địa chỉ: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nhưng đều không gặp.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Nguyễn Lam T thay đổi và xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc bị đơn ông Lưu Trung H phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty tính đến ngày 28/3/2025 với số tiền nợ gốc là 6.043.670 đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 28/12/2024 đến ngày 28/3/2025 là 199.441 đồng; không yêu cầu lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 29/3/2025. Xin rút lại yêu cầu về phí mượn xe: 353.298 đồng (5,4%/ tháng); Phí QLHS: 30.218 (0,5%/tháng); phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 9.643 đồng; phí thanh toán trước hạn 351.528 đồng.
- Đối với bị đơn ông Lưu Trung H: Quá trình giải quyết vụ án, ông Lưu Trung H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng khác nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho họ được vì ông H đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho họ theo đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hô ̣i đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trinh giải quyết vu ̣ án kể từ khi thu ̣ lý vu ̣ án đến trướ c
̀ thờ i điểm Hô ̣i đồng xét xử vào nghi ̣ án đã chấp hành đúng các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tu ̣ng dân sự, đối với bị đơn ông Lưu Trung H chưa chấp hành đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tu ̣ng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 309, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hội quy định
̀ về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Lưu Trung H hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 28/3/2025 là 6.243.111 đồng, bao gồm tiền nợ gốc là 6.043.670, lãi là 169.441 đồng. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về phí mượn xe: 353.298 đồng (5,4%/ tháng); Phí QLHS: 30.218 (0,5%/tháng); phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 9.643 đồng; phí thanh toán trước hạn 351.528 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn Công ty yêu cầu ông Lưu Trung H trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng cầm cố tài sản mà ông Lưu Trung H ký kết nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ án, bị đơn ông Lưu Trung H cư trú tại ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Bị đơn ông Lưu Trung H từ khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H hai lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lam T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lưu Trung H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T và ông H.
. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Nguyễn Lam T thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Chỉ yêu cầu bị đơn ông Lưu Trung H phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty tính đến ngày 28/3/2025 với số tiền nợ gốc là 6.043.670 đồng, tiền lãi tính là 199.441 đồng, tổng cộng 6.243.111 đồng; không yêu cầu lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 29/3/2025. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Nguyễn Lam T xin rút lại yêu cầu về phí mượn xe 353.298 đồng; phí quản lý hồ sơ 30.218 (0,5%/tháng); phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 9.643 đồng; phí thanh toán trước hạn 351.528 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự và đình chỉ giải quyết đối với những yêu cầu đã rút trên của nguyên đơn.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Lưu Trung H có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 6.043.670 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty cung cấp cho Tòa án chứng cứ là hợp đồng cầm cố tài sản số: STM241001030NA2X được ký giữa các bên ngày 28/10/2024 số đăng ký Giao dịch đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap theo web https://dktructuyen.moj.gov.vn/ và phụ lục hợp đồng và Công ty đã giải ngân số tiền 6.542.553 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm năm mươi ba đồng) chuyển cho người thụ hưởng là Lưu Trung H, số tài khoản xxxxxxxxxxxx ngân hàng S1 Chi nhánh S với nội dung chuyển tiền cho khách hàng Lưu Trung H; phiếu chi ngày 28/10/2024 số tiền 6.542.553 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm năm mươi ba đồng) có chữ ký của người nhận tiền là Lưu Trung H và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông H biết nhưng ông H không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định ông H đã vay và nhận đủ của Công ty số tiền là 6.542.553 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm năm mươi ba đồng). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 28/12/2024 thì ông H trả cho Công ty được số tiền gốc là 498.883 đồng, từ đó đến nay ông H không trả tiền gốc và lãi cho Công ty N đã vi phạm nghĩa vụ theo giao kết trong hợp đồng cầm cố, vi phạm Điều 4 của Hợp đồng cầm cố tài sản và Điều 4 của phụ lục hợp đồng mà các bên đã ký kết, ông H là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty yêu cầu bị đơn ông H phải trả cho Công ty số tiền vay gốc còn nợ 6.043.670 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng cầm cố tài sản số STM241001030NA2X ngày 28/10/2024 được ký giữa Công ty và ông H đã giao kết mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP01/7/2016 của Chính phủ, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng từ ngày 28/12/2024 đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi theo giao kết của hợp đồng đến ngày 28/3/2025 với số tiền là 199.441 đồng là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi tại hợp đồng cầm cố tài sản đa kỹ ́ kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, bị đơn ông Lưu Trung H có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc còn nợ là 6.043.670 đồng, tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng đến ngày 28/3/2025 với số tiền là 199.441 đồng, tổng cộng là 6.243.111 đồng. Do Công ty không yêu cầu ông H phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố kể từ ngày 29/3/2025 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Nguyễn Lam T thống nhất trường hợp khi ông H thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi phát sinh sẽ giao trả lại cho ông H bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 000384 do Công an thị trấn Đ cấp ngày 06/01/2023 đối với xe mô tô biển kiểm soát 83Z1-134.59, loại xe Wave AlPha, màu: Đen, số khung RLHJA3925NY727621, số máy JA39E2919785 đứng tên Lưu Trung H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu 312.155 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 280, 309, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
̀ Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay.
1.1. Buộc bị đơn ông Lưu Trung H có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 28/3/2025 là 6.243.111 đồng (Sáu triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn một trăm mười một đồng), bao gồm tiền gốc là 6.043.670 đồng (Sáu triệu không trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi đồng), tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng đến ngày 28/3/2025 là 199.441 đồng (Một trăm chí mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S Có Ngay có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Lưu Trung H phải trả lãi cho Công ty cổ phần S Có Ngay đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
1.2. Ngay sau khi ông Lưu Trung H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần S có trách nhiệm trả lại cho ông Lưu Trung H bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 000384 do Công an thị trấn Đ cấp ngày 06/01/2023 đối với xe mô tô biển kiểm soát 83Z1-134.59, loại xe Wave AlPha, màu: Đen, số khung RLHJA3925NY727621, số máy JA39E2919785 đứng tên Lưu Trung H.
1.3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả các khoản: Phí mượn xe 353.298 đồng (Ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm chín mươi tám đồng) (5,4%/ tháng); phí quản lý hồ sơ 30.218 đồng (Ba mươi nghìn hai trăm mười tám đồng) (0,5%/tháng); phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 9.643 đồng (Chín nghìn sáu trăm bốn mươi ba đồng); phí thanh toán trước hạn 351.528 đồng (Ba trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lưu Trung H phải chịu 312.155 đồng (Ba trăm mười hai nghìn một trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009232, ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bi ̣ đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật. 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.TT, KT&THA); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ̉ THÂM PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒ A Lê Hoàng Bảo |