vanban.org

Bản án 21/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

1. Buộc chị Phạm Kim N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 số tiền 51.645.053 (Năm mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm năm mươi ba) đồng. 2. Buộc chị Phạm Kim N có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và chị Phạm Kim N"
  • Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 156 Luật Ban hành văn bản; Điều 17 Thông tư số 19/2016 /TT-NHNN Quy định về hoạt động thẻ ngân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày: 10 - 4 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Châu Ngọc.

2. Bà Đặng Kim Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1; địa chỉ trụ sở Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1. Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973; địa chỉ làm việc Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S1 - Vắng mặt).

2. Ông Châu Minh S, sinh năm 1987; địa chỉ làm việc Số A, Tổ A, Đường C, Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số: 3525/2023/QĐ-PC ngày 25 tháng 12 năm 2023 và Văn bản ủy quyền số: 4039/2024/QĐ-PC ngày 27 tháng 12 năm 2024 - Vắng mặt).

3. Ông Trần D1, sinh năm 1984; địa chỉ làm việc Số A, Tổ A, Đường C, Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện theo ủy quyền của ông Châu Minh S (Văn bản ủy quyền số 115/2024/UQ-PGDTO ngày 29 tháng 8 năm 2024 - Có mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Kim N, sinh năm 1993; địa chỉ ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần D1 trình bày:

Ngày 13/12/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (gọi tắt là Ngân hàng S1) cùng với chị Phạm Kim N ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số: 1395844 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, kèm theo bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 có hiệu lực ngày 29/11/2019 - các văn bản này được gọi chung là hợp đồng tín dụng) với nội dung:

Ngân hàng S1 đồng ý cấp cho chị N thẻ tín dụng loại thẻ JCB Classic, với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng; mục đích giao dịch (mua hàng, thanh toán hàng hóa) tiêu dùng cá nhân và rút tiền mặt; thời hạn sử dụng thẻ đến tháng 12/2024; lãi suất thỏa thuận tại thời điểm làm thẻ là 2,6%/tháng và có thay đổi theo từng thời kỳ của ngân hàng, lãi phát sinh trên tài khoản được tính tương ứng với từng giao dịch mua hàng hóa hoặc giao dịch rút tiền mặt và giao dịch tương đương rút tiền mặt; bên cạnh lãi suất chủ thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến thẻ theo mức phí quy định tại Biểu phí hiện hành hoặc Biểu phí mới (khi mức phí thay đổi, có hiệu lực) được công bố trên trang website tại địa chỉ “www.S2.com.vn” hoặc tại bất kỳ chi nhánh, phòng giao dịch của Ngân hàng S1, tất cả các phí được ghi vào tài khoản của chủ thẻ ngay lập tức hay vào thông báo giao dịch kỳ tiếp theo tùy từng trường hợp; việc thanh toán đối với các khoản dư nợ theo thứ tự như sau: (i) các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, (ii) giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt của kỳ trước, (iii) giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước, (iv) các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, (v) giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt trong kỳ, (vi) giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến; ngày chốt thông báo giao dịch vào ngày 22 hàng tháng; trường hợp chủ thẻ vi phạm nghĩa vụ không thanh toán số tiền tối thiểu của kỳ thông báo giao dịch đã phát hành cho đến kỳ thông báo giao dịch tiếp theo thì Ngân hàng S1 sẽ tạm ngưng hoặc chấm dứt quyền sử dụng thẻ của chủ thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm quá hạn trên toàn bộ dư nợ, không tính các loại phí và tiến hành các biện pháp cần thiết để thu toàn bộ nợ.

Thực hiện hợp đồng tín dụng: Ngày 19/12/2019, Ngân hàng S1 phát hành và cấp cho chị N thẻ tín dụng loại JCB Classic, số thẻ 356480-7201, hạn mức sử dụng 25.000.000 đồng. Ngày 22/01/2020, chị N kích hoạt thẻ thực hiện giao dịch. Kể từ ngày kích hoạt thẻ giao dịch đến ngày 22/5/2023, chị N thanh toán đầy đủ số tiền theo thông báo giao dịch hàng tháng. Sau đó, chị N vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thông báo giao dịch trong 03 kỳ liên tiếp từ ngày 22/6/2023 đến ngày 22/9/2023. Mặc dù, trong thời gian này Ngân hàng S1 đã nhiều lần làm việc nhắc nhở yêu cầu chị N thanh toán các khoản dư nợ theo thứ tự thanh toán quy định tại Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, nhưng chị N không thực hiện. Căn cứ quy định tại Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngày 20/10/2023 Ngân hàng S1 đã khóa quyền sử dụng thẻ của chị N, chuyển toàn bộ dư nợ 28.991.378 đồng sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và thu hồi nợ. Tính đến ngày 10/4/2025, chị N nợ Ngân hàng S1 tổng cộng số tiền 51.645.053 đồng (Trong đó: nợ gốc 28.991.378 đồng; nợ lãi quá hạn 22.653.675 đồng).

Nay, Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng S1 số tiền 51.645.053 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng được tính kể từ ngày 11/4/2025 cho đến khi trả xong nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:

Chị Phạm Kim N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1 và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm. Riêng bị đơn chị N không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã được Kiểm sát viên nhận định, phân tích, cùng với điều luật viện dẫn đề nghị áp dụng như trong Phát biểu. Đề nghị Tòa án giải quyết:

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1. Buộc chị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng S1 nợ vay tính đến ngày 10/4/2025 số tiền 51.645.053 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Thời điểm trả lãi tiếp theo được tính kể từ ngày 11/4/2025 cho đến khi chị N trả xong nợ.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị N phải chịu án phí tính tròn số tiền 2.582.253 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng (hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng hay hợp đồng tín dụng về hoạt động thẻ ngân hàng) thuộc loại vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.

Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo thủ tục chung.

- Về nội dung:

Về áp dụng pháp luật: Xét thời điểm xác lập, thực hiện, phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các bên đương sự được Tòa án thụ lý, giải quyết như nhận định tại các mốc đơn [2], [3] “Về nội dung” diễn ra qua nhiều thời kỳ pháp luật về ngân hàng có quy định khác nhau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020; khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (gọi chung là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (gọi tắt là Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN) để giải quyết.

Xét việc Ngân hàng S1 và chị N thỏa thuận xác lập, thực hiện quan hệ cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thẻ ngân hàng thông qua hoạt động phát hành và sử dụng thẻ tín dụng loại JCB Classic, với hạn mức sử dụng 25.000.000 đồng; mục đích sử dụng thẻ dùng vào giao dịch tiêu dùng cá nhân và rút tiền mặt; có thỏa thuận về lãi suất, cách tính lãi suất, các loại phí dịch vụ thẻ theo Biểu phí đã được công bố, niêm yết công khai, thứ tự ưu tiên thanh toán và thời hạn thanh toán, về số tiền tối thiểu và số lần chủ thẻ vi phạm nghĩa vụ thanh toán sẽ bị tạm ngưng hoặc chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển nợ quá hạn, thu nợ là đúng quy định tại khoản 14 và khoản 15 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 94, điểm d khoản 3, khoản 4, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các khoản 1, 3, 11 và 24 Điều 3, khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 9, các khoản 1, 4 và 5 Điều 10, khoản 1 Điều 13, khoản 1 Điều 14, khoản 1 và khoản 3 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 16 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN.

Trong quá trình sử dụng thẻ, chị N đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán số tiền tối thiểu theo thông báo giao dịch trong 03 kỳ liên tiếp từ ngày 22/6/2023 đến ngày 22/9/2023. Do đó, ngày 22/10/2023 Ngân hàng S1 khóa quyền sử dụng thẻ của chị N, chuyển toàn bộ dư nợ số tiền 28.991.378 đồng sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và thu hồi nợ quá hạn, khởi kiện yêu cầu chị N trả nợ tính đến ngày 10/4/2025 số tiền 51.645.053 đồng (Trong đó: nợ gốc 28.991.378 đồng; nợ lãi quá hạn 22.653.675 đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp tín dụng được tính kể từ ngày 11/4/2025 cho đến khi trả xong nợ là đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; điểm k khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 17 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN.

Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng như nhận định tại các mốc đơn [1], [2] “Về tố tụng” và các mốc đơn [1], [2], [3] “Về nội dung”, Tòa án chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1 giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án giải quyết chị N phải nộp án phí tính tròn số tiền 2.582.253 đồng, hoàn trả cho Ngân hàng S1 được nhận lại số tiền 1.061.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.

- Áp dụng khoản 2 Điều 17 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

Tuyên xử:

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

1.1. Buộc chị Phạm Kim N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 số tiền 51.645.053 (Năm mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm năm mươi ba) đồng.

1.2. Buộc chị Phạm Kim N có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký ngày 13 tháng 12 năm 2019, kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có hiệu lực ngày 29 tháng 11 năm 2019 cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1. Thời điểm trả lãi tiếp theo được tính kể từ ngày 11 tháng 4 năm 2025 cho đến khi chị N trả xong nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc chị Phạm Kim N phải nộp án phí số tiền 2.582.253 (Hai triệu năm trăm tám mươi hai nghìn hai trăm năm mươi ba) đồng.

2.2. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 được nhận lại số tiền 1.061.000 (Một triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0014726 ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt ông Trần D1; vắng mặt bà Nguyễn Đức Thạch D, ông Châu Minh S, chị Phạm Kim N. Báo cho bà D, ông S biết có quyền đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần S1 kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Báo cho chị N biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ