- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hữu Huỳnh Đức - Trộ cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Các Điều 32, 38, 46, 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1, …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 20/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Cần; Ông Nguyễn Văn Hùng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý – Thư ký Tòa án nhân dânthị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sátnhân dânthị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnhtham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST- HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST–HS ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Hữu Huỳnh Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/5/1998, tại phường T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hoà Bình; Nơi thường trú: Tổ dân phố 8, phường Tân T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nơi tạm trú: Khối Cửa T, phường Vinh T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Khối Cửa T, phường Vinh T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông: Vũ Xuân M, sinh năm1972; Con bà: Nguyễn Thị H; Sinh năm 1972; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Bảo N; Sinh năm 2003; Con: Có một con, sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/10/2024 cho đến nay(Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Phan Thị T, sinh năm 1985, trú tại: Tổ dân phố T, phường Đức T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nhân viên siêu thị Winmart (Vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Xuân H, sinh năm 1987, trú tại: Thôn S xã Đ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt).
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Bảo N, sinh năm 2003, trú tại: Khối Cửa T, phường Vinh T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
- Chị Lê Thị T, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Hạ T, xã L, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, trú tại: Tổ dân phố 4, phường
Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 21/9/2024, Vũ Hữu Huỳnh Đ điều khiển xe mô tô BKS 38D1- 194.85 (mượn của anh Võ Xuân H) đi từ nhà ở khối Cửa T, phường Vinh T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến gặp bạn tại thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh nhưng không gặp được nên Đ quay về. Trên đường về, khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ ghé vào siêu thị Winmart ở số 08, đường 3/2 , tổ dân phố 4, phường B, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh để mua hàng. Tại đây, Đ nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max của chị Phan Thị T để trên tủ đựng kem không có người trông coi. Đ đi lại dùng tay phải bấm vào nút tăng giảm âm lượng của chiếc điện thoại để kiểm tra thì thấy điện thoại hoạt động bình thường nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại này. Đ đi qua đi lại, quan sát xung quanh một lúc thấy không có ai để ý nên đi lại gần, dùng tay phải cầm chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max bỏ vào túi quần sau bên phải rồi nhanh chóng ra khỏi siêu thị, điều khiển xe mô tô BKS 38D1 - 194.85 rời đi. Khi đi được một đoạn, Đ dừng xe, lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra kiểm tra thì thấy trong ốp điện thoại có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đ cất tờ tiền vào túi quần, rồi tắt nguồn điện thoại và bỏ vào trong cốp xe mô tô. Sau đó, Đ đến chơi điện tử tại quán Internet Anh Bâu ở số 56, đường 3/2, tổ dân phố 9, phường Bắc H, thị xã Hồng Lĩnh đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì đi về nhà tại khối Cửa T, phường V, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Chiều ngày 22/9/2024, Công an phường B, thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành triệu tập Đ đến làm việc, tại đây Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 03/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hồng Lĩnh, kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 21/9/2024, trị giá của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, vỏ màu vàng bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao 0355450178, số IMEI 1: 353923108405271, số Imel 2: 353923108230299 đã qua sử dụng là 6.000.000 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu, xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao 0355450178, số IMEI 1: 353923108405271, số Imel 2: 353923108230299 đã qua sử dụng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, sơn màu trắng đen bạc, BKS 38D1-194.85, số khung: 3902HY287845, số máy: JA39E0287895.
- 01 quần bò lửng màu xanh; 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen có 03 sọc trắng ngang, đều đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, đã xác định: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao 0355450178, số IMEI 1: 353923108405271, số Imel 2: 353923108230299 là tài sản thuộc sở hữu của chị Phan Thị T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, sơn màu trắng đen bạc, BKS 38D1-194.85 thuộc sở hữu của vợ chồng anh Võ Xuân H và vợ là chị Phùng Thị Bảo Y (hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Trung Quốc). Anh H không biết Đ sử dụng phương tiện của mình đi trộm cắp tài sản nên sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh Võ Xuân H.
01 quần bò lửng màu xanh; 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen có 03 sọc trắng ngang là trang phục Đ mặc trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chưa xử lý, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh để xử lý theo quy định.
* Về phần dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ đã tự nguyện bồi thường cho chị Phan Thị T số tiền 500.000 đồng đã chiếm đoạt; chị T đã được nhận lại đầy đủ tài sản, hiện không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ.
Với hành vi và nội dung vụ án nêu trên, tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS– TXHL ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh,tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Vũ Hữu Huỳnh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 32, 38, 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ mức án từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo 01 quần bò lửng màu xanh; 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen có 03 sọc trắng ngang.
Về án phí: Đề nghị tuyên buộc bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đức không có ý kiến tranh luận với quan điểm đại diện Viện kiểm sát, chỉ tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa, khắc phục sai phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại nên các hành vi, quyết định đó đảm bảo hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên hồ sơ thể hiện những người này đều không có yêu cầu gì về dân sự. Xét thấy, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi, cách thức thực hiện tội phạm đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ 06 phút, ngày 21/9/2024, Vũ Hữu Huỳnh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anlpha BKS 38D1- 194.85 đến cửa hàng siêu thị Winmart, đường 3/2, tổ dân phố 4, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh lấy trộm của chị Phan Thị T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0355450178 có trị giá 6.000.000 đồng và 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng để phía sau ốp của chiếc điện thoại của chị Thu để trên tủ kem của cửa hàng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được sai phạm, thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, và có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nhằm thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật. Bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn vợ không có việc làm, đang nuôi con nhỏ, bố bỏ đi khi bị cáo còn nhỏ, mẹ bị cáo hiện đang thi hành án phạt tù do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Mức hình phạt chính đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã xử lý trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao 0355450178; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, sơn màu trắng đen bạc, BKS 38D1-194.85 cho các chủ sở hữu hợp pháp nên miễn xét. Đối với 01 quần bò lửng màu xanh; 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen có 03 sọc trắng ngang là trang phục Đ mặc trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hiện vẫn còn giá trị sử dụng, tại phiên tòa bị cáo Đ xin nhận lại toàn bộ tư trang đồ dùng cá nhân này nên cần căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những nội dung khác liên quan trong vụ án:
Anh Võ Xuân Huy là người cho bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu trắng đen, biển kiểm soát 38D1-194.85 thuộc sở hữu của vợ chồng anh để làm phương tiện đi lại từ ngày 19/9/2024. Anh Huy không biết việc Vũ Hữu Huỳnh Đ sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội,nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Các Điều 32, 38, 46, 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ cho chính quyền địa phương Uỷ ban nhân dân phường Vinh T , thành phố Vinh và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tuyên trả lại cho bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ 01 quần bò lửng màu xanh; 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen có 03 sọc trắng ngang.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hồng Lĩnh và Chi cục THADS thị xã Hồng Lĩnh.
5. Về án phí: Xử buộc bị cáo Vũ Hữu Huỳnh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND Thị xã Hồng Lĩnh; - CQĐT CA Thị xã Hồng Lĩnh; - CQTHAHS CA Thị xã Hồng Lĩnh; - Chi cục THADS Thị xã Hồng Lĩnh; - Bị cáo; - UBND phường Vinh T; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hạnh |