- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phúc Hậu - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ng**** P*** Hậu phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HSST Ngày: 19- 3- 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Minh Thiết
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Lê Trí Thông – Bí thư Đoàn Thanh niên xã Đông Thành
2/ Bà Ngô Thị Thanh - Chủ tịch Hội Liện hiệp phụ nữ phường Cái Vồn
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Võ Thanh Sang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024; đối với bị cáo:
Ng**** P*** Hậu, sinh ngày 06/4/2008; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Bình Minh, Vĩnh Long; Chỗ ở hiện nay: Â* T**** T*** B, x* T**** *n, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Không rõ họ tên; Con bà Ng**** H**** Lệ, sinh năm 1975; Anh chị em ruột có tất cả 02 người lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/9/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
1. Người đại diện cho bị cáo:
Bà Ng**** H**** Lệ, sinh năm 1975. Trú tại: Â* T**** T*** B, x* T**** *n, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
2. Người bị hại:
Em H* T**** Đạt, sinh ngày 21/12/2012. Trú tại: K1, P.TP, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng)
Người đại diện cho H* T**** Đạt: Ông H* M*** T***, sinh năm 1988. Trú tại: K3, P. TP, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Em P*** L** G** Bảo, sinh ngày 02/4/2011. Trú tại: T*, K1, p CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
Người đại diện cho em P*** L** G** Bảo là: Ông P*** N** H**, sinh năm 1983. Trú tại: T*, K1, p CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng)
3.2. Anh P*** H**** T**** N***, sinh năm 1990. Trú tại: T*, K1, p TP, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng)
3.3. Ông P*** V** T****, sinh năm: 1959. Trú tại: K1, p CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
4. Người làm chứng:
Em H* N*** M*** V**, sinh ngày 09/11/2010. Trú tại: T*, K4, p TP, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng)
Người giám hộ cho em H* N*** M*** V** là: Ông H* N*** T*****, sinh năm 1986. Trú tại: T*, K4, p TP, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
5. Người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo:
Ông L* V** N*** – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 30/6/2023 Ng**** P*** Hậu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449 chở P*** L** G** Bảo, sinh năm 2012 đi trên đường Phan Văn Năm lưu thông hướng ngã tư Thu Loan về chợ Bình Minh. Khi chạy đến khu vực sân vận động thị xã Bình Minh thuộc phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh thì Hậu và Bảo nhìn thấy H* N*** M*** Văn, sinh năm 2011 đạp xe đạp chở sau là H* T**** Đạt, sinh ngày 21/12/2012 (Đạt là bạn quen biết với Bảo) chạy hướng ngược lại. Bảo kêu Hậu quay đầu xe lại để đùa giỡn với Văn và Đạt thì Hậu đồng ý, Bảo kêu Hậu dừng xe lại cho Bảo xuống xe để Bảo rượt theo Văn và Đạt, Hậu ngồi trên xe chờ.
Sau đó Bảo quay trở lại chỗ Hậu đang ngồi chờ, thì lúc này Hậu nhìn thấy Đạt có cầm một điện thoại di động (hiệu OPPO A5s) trên tay phải, Hậu nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của Đạt nên Hậu kêu Bảo quay lại giật lấy điện thoại của Đạt thì Bảo đồng ý và đi lại phía Đạt, khi phát hiện Đạt sơ hở thì Bảo dùng tay trái giật lấy điện thoại của Đạt, Đạt liền dùng hai tay ôm tay của Bảo và giữ điện thoại lại. Sau đó Bảo và Đạt giật qua kéo lại khoảng 4- 5 lần thì Bảo giật lấy được cái điện thoại. Bảo nhanh chóng chạy ra chỗ Hậu đang dừng chờ rồi lên xe Hậu chở chạy đi. Hậu khởi động nổ máy xe và nhanh chóng điều khiển xe chở Bảo chạy thoát về theo hướng đi chợ Bình Minh.
Khi chạy xe đến khu vực cầu huyện đội cũ, Bảo đưa cái điện thoại vừa cướp giật được cho Hậu cất giữ để qua ngày hôm sau bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó, cả hai chạy xe về nhà Hậu, xong Bảo lấy xe chạy về nhà của Bảo. Đến sáng ngày 01/7/2013, Bảo và Hậu nhắn tin và gọi điện thoại nói chuyện với nhau qua ứng dụng Messenger để bàn cách bán điện thoại cướp giật được của Đạt. Sau đó, cả hai thống nhất bán điện thoại để lấy tiền tiêu xài và hẹn gặp nhau ở tiệm game MrK trên đường 3/2 thuộc phường Cái Vồn để chia tiền bán điện thoại đã cướp giật được.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Hậu nhờ một người bạn tên Khang (không rõ lai lịch) chở Hậu đến tiệm điện thoại và cầm đồ Khắc Cầm thuộc phường Thành Phước, thị xã Bình Minh bán điện thoại đã cướp giật được cho chủ tiệm là anh P*** H**** T**** N*** với giá 500.000đồng. Sau đó Khang chở Hậu đến tiệm game MrK rồi Khang đi về. Hậu vào chơi game đợi Bảo đến để chia tiền. Một lúc sau Bảo đến nhưng chưa kịp chia tiền thì lực lượng Công an phường mời Hậu và Bảo về cơ quan làm việc, cả hai đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật điện thoại của Đạt và giao nộp lại số tiền 500.000đồng.
Căn cứ lời khai của Ng**** P*** Hậu, trong ngày 01/7/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc và thu hồi được 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5s tại tiệm cầm đồ Khắc Cầm.
Căn cứ kết luận định giá số: 47 ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Minh: 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s có giá trị là 1.197.000đồng và 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo có giá trị là 4.500đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.201.500đồng. (BL: 49)
Căn cứ bản kết luận giám định số: 273 ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long: Tại thời điểm ngày 30/6/2023 Ng**** P*** Hậu có độ tuổi là 15 tuổi (BL: 16-17). Nội dung kết luận tuổi là phù hợp với tài liệu chứng sinh của Ng**** P*** Hậu (BL: 58-60) thể hiện Hậu sinh ngày 06/4/2008.
Đối với P*** L** G** Bảo tại thời điểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản cùng với Ng**** P*** Hậu thì Bảo mới 12 tuổi 02 tháng 28 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì Bảo chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh P*** H**** T**** N*** là chủ tiệm cầm đồ Khắc Cầm có mua 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO A5s của Hậu bán. Tuy nhiên, không biết điện thoại OPPO A5s là do Hậu cướp giật mà có nên không có căn cứ xử lý đối với anh Nhân về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. (BL: 80)
Đối với người tên Khang do bị cáo Hậu khai không rõ nhân thân lai lịch, Hậu cũng không nói cho Khang biết việc Hậu nhờ chở đi bán cái điện thoại là tài sản do cướp giật mà có được, nên khi nào xác minh làm rõ đối sẽ xử lý sau.
+ Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hậu:
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra Hậu đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
+ Về việc thu giữ: (BL: 26-28)
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449;
- 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen có số IMEI 1: 865222040323838. Trên điện thoại có ốp lưng bằng nhựa dẻo, trên ốp lưng có dòng chữ ELEGANT và nhiều dòng chữ PARIS.
- Tiền Việt Nam: 500.000đồng.
+ Xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen có số IMEI 1: 865222040323838 kèm ốp lưng bằng nhựa dẻo, trên ốp lưng có dòng chữ ELEGANT và nhiều dòng chữ PARIS là tài sản của bị hại H* T**** Đạt, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho H* T**** Đạt xong.
+ Về trách nhiệm dân sự: (BL: 78-80)
Anh P*** H**** T**** N*** là chủ tiệm cầm đồ Khắc Cầm yêu cầu bị cáo Hậu trả lại số tiền 500.000đồng đã mua điện thoại OPPO A5s.
Quá trình điều tra, Ng**** P*** Hậu đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo Hậu phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSBM, ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo Ng**** P*** Hậu về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
* Tại phiên tòa:
- Ng**** P*** Hậu thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Hậu về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Gia đình bị cáo Hậu đã tự nguyện bồi thường 500.000đồng cho anh P*** H**** T**** N***. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà Ng**** H**** Lệ trình bày: Thống nhất nội dung cáo trạng và điều luật, tội danh đối với Hậu, bà Lệ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Hậu.
- Người bị hại H* T**** Đạt có đơn xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
- Người đại diện hợp pháp cho H* T**** Đạt là ông H* M*** T*** có đơn xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan P*** L** G** Bảo không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
- Người đại diện hợp pháp cho P*** L** G** Bảo là ông P*** N** H** có đơn xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh P*** H**** T**** N*** có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời trình bày anh Nhân có nhận 500.000đồng tiền bồi thường khắc phục từ gia đình bị cáo Hậu, nên không có yêu cầu thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông PP*** V** T**** trình bày: Ông Thuận yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449 và Giấy đăng ký xe.
- Người làm chứng H* N*** M*** V** có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho người làm làm chứng là ông H* N*** T***** có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo L* V** N*** có đơn xin vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà:
- Tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đối với bị cáo Ng**** P*** Hậu. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:
Bị cáo Ng**** P*** Hậu từ 01 (một) năm đến 01 (một) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm về tội Cướp giật tài sản;
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s xong. Anh P*** H**** T**** N*** đã được gia đình bị cáo Hậu tự nguyện bồi thường khắc phục 500.000đồng, không có khác nên không đặt ra xem xét.
Xử lý vật chứng:
1. Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen có số IMEI 1: 865222040323838 kèm ốp lưng bằng nhựa dẻo, trên ốp lưng có dòng chữ ELEGANT và nhiều dòng chữ PARIS là tài sản của H* T**** Đạt. Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bình Minh đã trả lại điện thoại kèm ốp lưng cho bị hại H* T**** Đạt xong.
2. Một xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2249; Một giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2249. Xe và giấy đăng ký xe là tài sản do ông PP*** V** T**** quản lý hợp pháp, nên cần giao trả lại cho ông P*** V** T****.
3. Giao trả 500.000đồng cho bà Ng**** H**** Lệ.
Buộc bị cáo nộp án phí theo quy định.
Phần tranh luận tại phiên tòa:
Bị cáo Hậu thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hậu thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo Ng**** P*** Hậu ra xét xử về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã vận động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh P*** H**** T**** N*** xong; bị cáo là người chưa thành niên thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ông L* V** N*** – là người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo có gửi bài bào chữa đến phiên tòa, nội dung như sau:
Thứ nhất: Xét về hành vi của bị cáo Ng**** P*** Hậu là hành vi bộc phát nhất thời mang tính chất giản đơn. Nhận thấy tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo cho xã hội là không cao. Do nhận thức về pháp luật của bị cáo hạn chế, thiếu suy nghĩ cũng như không nghĩ đến hậu quả xảy ra nên dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét những tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Thứ hai: Bị cáo Hậu có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tại điểm h, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội bồi thường khắc phục hậu quả.
Ngoài ra Hậu cũng có những tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đáng thương, cha bị cáo bỏ đi khi bị cáo còn rất nhỏ, mẹ bị cáo phải đi làm thuê nuôi bị cáo, bị cáo không được học hành dẫn đến nhận thức về pháp luật hạn chế. Khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý… Hậu không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.
Về trách nhiệm dân sự: Phía bị cáo đã bồi thường số tiền 500.000đồng cho anh P*** H**** T**** N***, anh Nhân cũng không còn yêu cầu nào khác.
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tốt, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, việc không cách ly bị cáo cũng không làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm.
Với những tình tiết nêu trên, căn cứ điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90, khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 100; điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử bị cáo Ng**** P*** Hậu mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tại không giam giữ và miễn án phí cho bị cáo là trẻ em không có điều kiện đóng án phí.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bình Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:
Tại các Biên bản làm việc ở Công an phường; Biên bản thu giữ tang vật; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Lời khai của bị cáo; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Lời khai của bị hại; lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 30/6/2023 Ng**** P*** Hậu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449 chở P*** L** G** Bảo trên đường Phan Văn Năm lưu thông hướng ngã tư Thu Loan về chợ Bình Minh. Khi chạy đến khu vực sân vận động thị xã Bình Minh thì Hậu và Bảo nhìn thấy H* N*** M*** V** đạp xe đạp chở sau là H* T**** Đạt chạy hướng ngược lại. Bảo kêu Hậu quay đầu xe lại để đùa giỡn với Văn và Đạt thì Hậu đồng ý, Bảo kêu Hậu dừng xe lại cho Bảo xuống xe để Bảo rượt theo Văn và Đạt, Hậu ngồi trên xe chờ, lúc này Hậu nhìn thấy Đạt có cầm một cái điện thoại di động trên tay phải, Hậu nảy sinh ý định cướp giật cái điện thoại của Đạt nên Hậu kêu Bảo quay lại giật lấy điện thoại của Đạt thì Bảo đồng ý. Khi Đạt sơ hở thì Bảo dùng tay trái giật lấy được cái điện thoại của Đạt. Bảo nhanh chóng chạy ra chỗ Hậu đang chờ rồi lên xe của Hậu chở chạy đi. Sau đó cả hai chạy xe về nhà Hậu, xong Bảo lấy xe chạy về nhà của Bảo. Đến sáng ngày 01/7/2013, Bảo và Hậu nhắn tin và gọi điện thoại nói chuyện với nhau qua ứng dụng Messenger để bàn cách bán điện thoại cướp giật được của Đạt. Cả hai thống nhất bán điện thoại để lấy tiền tiêu xài và hẹn gặp nhau ở tiệm game MrK thuộc phường Cái Vồn để chia tiền bán điện thoại đã cướp giật được. Cùng ngày Hậu nhờ một người bạn tên Khang (không rõ lai lịch) chở đến tiệm điện cầm đồ Khắc Cầm bán cái điện thoại cho chủ tiệm P*** H**** T**** N*** với giá 500.000đồng. Hậu vào chơi game đợi Bảo đến để chia tiền. Một lúc sau Bảo đến nhưng chưa kịp chia tiền thì lực lượng Công an phường mời về làm việc, tại cơ quan Công an cả hai đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật cái điện thoại của Đạt và giao nộp lại 500.000đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Ng**** P*** Hậu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Ng**** P*** Hậu là người chưa thành niên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi, tuy nhiên bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý có căn cứ nên được chấp nhận.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, ý thức chiếm đoạt tài sản đã nảy sinh trước khi thực hiện hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bị cáo, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét bị cáo Ng**** P*** Hậu phạm tội khi có độ tuổi là 15 tuổi, nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo là người không biết chữ, không có học vấn, khả năng nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo là người chưa thành niên thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về vị trí, vai trò: Ng**** P*** Hậu là người khởi xướng xúi giục P*** L** G** Bảo trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản, do vậy trong vụ án này bị cáo Hậu giữ vai trò chính là tổ chức, xúi giục người khác phạm tội. Tuy nhiên thời điểm Bảo thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì Bảo mới 12 tuổi 02 tháng 28 ngày, căn cứ theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì Bảo chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Qua xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hậu thấy; Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử bị cáo mức án như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Đối với tội phạm về xâm phạm quyền sở hữu, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về vật chứng:
- Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen có số IMEI 1: 865222040323838 kèm ốp lưng bằng nhựa dẻo, trên ốp lưng có dòng chữ ELEGANT và nhiều dòng chữ PARIS. Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại H* T**** Đạt.
- Một xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2249 (Biên bản đầu và quyết định chuyển vật chứng không có nêu số khung, số sườn. Hiện tại xe đã qua sử dụng, không kiểm tra bộ phận bên trong của xe. Trên thân xe có ghi chữ NOUVO và chữ YAMAHA, xe có 1 kính); Một giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2249 (Giấy đăng ký mang tên Đ*** T** H*, có số 0095945 do Công an tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 28/8/2004). Xe và giấy đăng ký xe là tài sản do ông PP*** V** T**** quản lý hợp pháp, nên cần giao trả lại cho ông P*** V** T****.
Các vấn đề khác:
Về trách nhiệm dân sự: Anh P*** H**** T**** N*** đã được bồi thường 500.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xét.
Trả lại cho bà Ng**** H**** Lệ số tiền 500.000đồng theo biên lại thu số 0000273, ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh.
Đối với P*** L** G** Bảo, sinh ngày 02/4/2012 là người trực tiếp thực hiện hành vi giật điện thoại trong vụ án cướp giật tài sản cùng Ng**** P*** Hậu, tuy nhiên khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì Bảo mới 12 tuổi 02 tháng 28 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra đã miễn truy tố trách nhiệm hình sự cho P*** L** G** Bảo là có cơ sở.
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo Hậu.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; Người đại diện hợp pháp cho bị cáo; Bị hại; Người đại diện hợp pháp cho bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ng**** P*** Hậu phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Xử phạt bị cáo Ng**** P*** Hậu 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 19/3/2024.
Giao bị cáo Ng**** P*** Hậu cho Ủy ban nhân dân xTA, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Ng**** P*** Hậu thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hậu.
3. Về các vấn đề khác:
3.1. Về trách nhiệm dân sự:
Anh P*** H**** T**** N*** đã nhận 500.000đồng xong, không còn yêu cầu gì trong vụ án.
3.2. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen, kèm ốp lưng bằng nhựa dẻo, trên ốp lưng có dòng chữ ELEGANT cho H* T**** Đạt xong.
- Trả lại ông P*** V** T**** 01 xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2449 mang tên Đ*** T** H*. (Biên bản đầu và quyết định chuyển vật chứng không có nêu số khung, số sườn. Hiện tại xe đã qua sử dụng, không kiểm tra bộ phận bên trong của xe. Trên thân xe có ghi chữ NOUVO và chữ YAMAHA, xe có 1 kính); Một giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76V5-2249 (Giấy đăng ký mang tên Đ*** T** H*, có số 0095945 do Công an tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 28/8/2004). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 01 năm 2024.
- Trả lại cho bà Ng**** H**** Lệ số tiền 500.000đồng theo biên lại thu số 0000273, ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh.
3.3. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hậu.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, Người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. * Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Công an tỉnh Vĩnh Long;
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng hồ sơ – CAT Vĩnh Long;
- VKSND thị xã Bình Minh;
Trƣơng Minh Thiết
- Công an thị xã Bình Minh;
- Công an xã Thuận An;
- Chi cục THADS thị xã Bình Minh;
- Bị cáo; Người đại diện bị cáo;
- Người bào chữa;
- Bị hại; Người đại diện bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hs. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA