vanban.org

Bản án 21/2024/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 30/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Án lệ số 47 2021 AL được Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 11 2021 và được công bố theo Quyết đ nh số 594 QĐ-CA ngày 31 12 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên bố: B cáo A T phạm tội “Giết người”. Xử phạt: B cáo A T 13 Mư i ba năm tù, th i gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo b bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/02/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm bị cáo A Thung - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ số 47 2021 AL được Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 11 2021 và được công bố theo Quyết đ nh số 594 QĐ-CA ngày 31 12 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST
Ngày: 30-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Nguyên

Thẩm phán: Ông Trần Tỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Rơ Đăm Nguyên

2. Ông Bùi Nguyễn Thế Vương

3. Ông Lê Xuân Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ ng Th Hư ng – Thư k Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- i diện iện ki m sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung – Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số 22 2024 HS-ST, ngày 24 6 2024, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024 QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với b cáo:

A T; Sinh ngày 16/7/2000; Tại tỉnh Kon Tum;

Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Xơ Đăng (Ca Dong); giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con A Phen và bà Y Khỗi; có vợ là Y B và 01 ngư i con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

B cáo b bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2024 Có m t .

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đ ng Th Kim N - Trợ giúp viên pháp l của Trung tâm trợ giúp pháp l nhà nước tỉnh Kon Tum Có m t

- Bị h i: Y B, sinh năm 2000; Đ a chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum Vắng m t

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị h i: Ông Nguyễn Văn Đ - Trợ giúp viên pháp l của Trung tâm trợ giúp pháp l nhà nước tỉnh Kon Tum Có m t

- Những người làm chứng:

+ Anh A Điện, sinh năm 1990 Vắng m t

+ Anh A D, sinh năm 1996 Vắng m t

Cùng đ a chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum

- Người phiên dịch:

+ Ngư i phiên d ch cho b cáo: Ch Đinh Th Thanh H – Tư pháp hộ t ch xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum Có m t

+ Ngư i phiên d ch cho b hại: Ch Y M – Chủ t ch Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum Có m t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 gi ngày 12 02 2024, A T sinh năm 2000, trú tại: thôn Ngọc Ring, xã Đắk Ring, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, đến nhà A Bây cách nhà T 20m để cùng uống rượu với A Bây, A Chin, A Hơn đều trú cùng thôn . Uống rượu được 01 - 02 ly thì A T đi về và đi rẫy cùng vợ là Y B để ch t củi. Đến 15 gi cùng ngày, A T và Y B đi về nhà. Đến 18 gi cùng ngày, A Khang đến nhà nói Y B qua nhà A De bố A Khang để uống rượu nhưng Y B trả l i không đi. Sau đó, A T nói với Y B đi mua rượu về uống nhưng Y B không đi, A T tiếp tục nói với Y B đi giã gạo nhưng Y B không giã. Lúc này, hai vợ ch ng xảy ra tranh cãi với nhau, A T đi vào nhà bếp lấy 01 con dao rựa để cạo móng tay cho sạch. Sau khi, cạo móng tay xong A T mang con dao rựa vào phòng ngủ của vợ ch ng A T và để ở dưới mền mền xếp thành gối dùng để gối đầu trên chiếc chiếu trải trên nền nhà, r i A T đi ra ngoài. Sau đó, Y B đi vào phòng ngủ thì A T đi theo sau vào phòng và chốt cửa phòng ngủ lại. A T nằm xuống đ nh ngủ nhưng không ngủ được, A T thấy bu n nôn nên ng i dậy để nôn nhưng không nôn được nên nằm lại xuống chiếu. Lúc này, Y B nói với A T “anh đừng uống rượu nữa” bằng tiếng dân tộc Ca Dong , A T đã bực tức nên dùng tay trái đưa vào dưới gối cầm lấy cán dao rựa rút ra và đứng dậy. Khi đứng dậy, A T chuyển con dao rựa qua cầm tay phải. Lúc này, Y B đang ng i trên chiếu, m t Y B quay về phía vách tư ng, lưng quay về phía A T nên không thấy A T lấy dao rựa. A T dùng tay phải cầm dao rựa đưa lên đánh từ trên xuống dưới, từ sau ra trước vào vùng gáy của Y B, phần sống con dao rựa trúng vào gáy của Y B làm Y B ngã cúi gục m t xuống chiếu. Thấy Y B gượng ng i dậy, A T đi đến trước m t Y B và tiếp tục cầm dao rựa chém từ trên xuống dưới vào vùng đầu bên trái của Y B, Y B đưa hai tay lên đỡ thì trúng vào tay trái của Y B, làm Y B ngã xuống dưới chiếu. Sau đó, Y B ng i dậy m t quay hướng ra cửa phòng ngủ , A T tiếp tục dùng dao rựa chém từ trên xuống dưới vào vùng đầu Y B, Y B tiếp tục đưa hai tay lên đỡ thì trúng vào tay phải của Y B. Lúc này, Y B ngã ngửa tựa đầu vào vách tư ng phòng ngủ và trượt ngã dần xuống dưới chiếu. Lúc này, A T tiếp tục dùng dao rựa chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu của Y B (bao nhiêu nhát A T không nhớ . Khi thấy Y B nằm không cử động và trên ngư i chảy nhiều máu nên A T dừng lại không chém nữa. Tưởng Y B đã chết A T dùng chân phải đá vào đùi của Y B kiểm tra thì thấy Y B vẫn còn lắc ngư i. Lúc này, A T nghe thấy tiếng nhiều ngư i ở ngoài phòng ngủ và A T nhìn qua cửa sổ thì thấy Y Xuân, A Khang đang nhìn vào nên A T cầm con dao rựa đi đến dựng ở góc cửa ra vào của bu ng ngủ và đứng ở đó thì b A Dú trèo tư ng vào trong phòng, mở chốt cửa phòng ngủ cho A Điện và cùng nhiều ngư i dân vào bắt, khống chế và áp giải A T đến trụ sở Công an xã Đắk Ring, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum để làm việc. Y B được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa tỉnh Kon Tum.

Tại kết luận giám đ nh tổn thương cơ thể trên ngư i sống số: 22/KLTTCT-TTPY ngày 19/02/2024, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y B tại th i điểm giám đ nh là: 22%. Các kết quả chính:

+ Kết quả khám giám đ nh:

- Vết thương đỉnh đầu kích thước trung bình: 02%.

- Vết thương trán-thái dương bên phải kích thước trung bình: 02%.

- Vết thương vùng thái dương trên vành tai bên phải kích thước trung

bình: 02%.

- 06 vết thương vùng chẩm kích thước lần lượt từ trên xuống dưới là:

+ Vết thương thứ nhất kích thước nhỏ: 01%.

+ Vết thương thứ hai kích thước trung bình: 02%.

+ Vết thương thứ ba kích thước nhỏ: 01%.

+ Vết thương thứ tư kích thước trung bình: 02%.

+ Vết thương thứ năm kích thước trung bình: 02%.

+ Vết thương thứ sáu kích thước nhỏ: 01%.

- Vết thương vùng chẩm sau vành tai bên trái kích thước trung bình: 02%.

- Vết thương giữa trán kích thước nhỏ: 03%.

- Vết thương tai bên trái kích thước trung bình: 06%.

- Các tổn thưng còn lại đang theo dõi điều tr : Chưa xếp tỷ lệ.

Ngày 07 05 2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết đ nh trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum giám đ nh bổ sung, bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của Y B. Bản Kết luận giám đ nh tổn thương cơ thể trên ngư i sống số: 77 KLTTCT-TTPY ngày 10/05/2024 kết luận đối với Y B như sau:

- Sẹo vai bên phải kích thước trung bình: 02%.

- Sẹo cổ tay bên phải kích thước lớn: 03%

- 02 sẹo mu bàn tay bên phải

+ Sẹo thứ 01 kích thước nhỏ: 01%

+ Sẹo thứ 02 kích thước trung bình:02%

- Sẹo đốt gần ngón 2 bàn tay bên phải kích thước trung bình: 02%

- Sẹo đốt gần ngón 3 bàn tay bên phải kích thước nhỏ: 01%

- Sẹo mõm cụt ngón 4 bàn tay bên phải kích thước nhỏ: 01%

- Tháo khớp ngón IV bàn tay phải: 09 %

- Sẹo từ 1 3 dưới cẳng tay đến cổ tay bên trái kích thước lớn: 03%

- Sẹo mu bàn tay bên trái kích thước trung bình: 02%

- Sẹo đốt gần ngón 3 bàn tay bên trái kích thước nhỏ: 01%

- Vỡ xương đỉnh sọ bên phải chiều dài từ 3cm đến 5cm, điện não không có tổn thương tương ứng: 09%

- Mẻ bản sọ ngoài xương hộp sọ trán phải đư ng kính trên 3cm, điện não không có tổn thương tương ứng: 06%

- Phương tiện kết hợp xương đầu dưới xương quay phải: 08%

- Phương tiện kết hợp xương thân xương bàn II bàn tay phải: 06%

- Phương tiện kết hợp xương đốt gần ngón I tay phải: 03%

- Phương tiện kết hợp xương dốt gần ngón III tay phải: 02%

- Phương tiện kết hợp xương đốt gần ngón V tay phải: 02%

- Mẻ xương đốt xa ngón I tay phải: 01%

- Phương tiện kết hợp xương nền xương bàn I tay trái: 06%

- Phương tiện kết hợp xương chỏm xương đốt gần ngón III tay trái: 02%

- Đứt động mạch quay tay phải đã khâu nối kết quả tốt: 05%

Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Y B giám đ nh lần đầu và giám đ nh bổ sung tại th i điểm giám đ nh là: 65%.

Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ g m: 01 con dao rựa có chiều dài 58cm, cán dao rựa bằng tre dài 30cm hình trụ tròn đư ng kính 03cm, lưỡi dao rựa làm bằng kim loại bản rộng 05cm, đầu mũi dao có mấu cong.

Trách nhiệm dân sự: B hại Y B không yêu cầu b cáo A T b i thư ng gì.

Cáo trạng số 13/CT-VKSKT ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố b cáo A T về tội “Giết người” theo quy đ nh tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã phân tích, về nguyên nhân, hành vi, mục đích phạm tội, hậu quả mà b cáo đã gây ra đánh giá các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của b cáo. Qua đó vẫn giữ nguyên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố đối với b cáo và đề ngh Hội đ ng xét xử: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố: B cáo A T phạm tội “Giết người”. Xử phạt: B cáo A T từ 12 Mư i hai đến 13 Mư i ba năm tù, th i gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo b bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/02/2024).

Về vật chứng: T ch thu tiêu hủy con dao là công cụ phượng tiện dùng vào việc phạm tội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho b cáo theo quy đ nh của pháp luật.

* Ngư i bào chữa của b cáo trình bày:

Đ ng về tội danh như đại diện viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên đề ngh Hội đ ng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo như b cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là đ ng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đ c biệt khó khăn, việc hiểu biết pháp luật còn hạn chế, b cáo đã tác động gia đình bán bò để b i thư ng cho b hại, tuy nhiên gia đình chưa thấy b i thư ng, b cáo phạm tội thuộc trư ng hợp chưa đạt. Do vậy, đề ngh Hội đ ng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo để b cáo sớm trở về làm lại cuộc đ i vì tuổi đ i còn trẻ.

* Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của b hại trình bày: Đ ng với cáo trạng truy tố và luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với b cáo, tại phiên tòa b hại đư ng xa xuống không k p, có đơn xin vắng m t và không yêu cầu b i thư ng thiệt hại. Do đó, đề ngh HĐXX giải quyết theo quy đ nh của pháp luật để trừng tr ngư i phạm tội.

B cáo đ ng với những nội dung, kiến của ngư i bào chữa và không có kiến gì thêm. L i nói sau cùng, b cáo xin Hội đ ng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho b cáo để b cáo có cơ hội cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo, ngư i bào chữa cho b cáo, b hại, ngư i làm chứng không ai có kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của b cáo thấy rằng: Tại phiên tòa, b cáo A T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, l i khai của b cáo phù hợp với l i khai của những ngư i tham gia tố tụng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Do đó Hội đ ng xét xử, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 gi ngày 12/02/2024, A T và Y B sau khi đi rẫy ch t củi về nhà tại: thôn Ngọc Ring, xã Đắk Ring, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, A T nói với Y B đi mua rượu về uống và nói Y B đi giã gạo nhưng Y B không làm nên giữa A T, Y B xảy ra cãi vã với nhau. Sau đó, A T đi vào nhà bếp lấy 01 con dao rựa có chiều dài 58cm, cán dao rựa bằng tre dài 30cm hình trụ tròn đư ng kính 03cm, lưỡi dao rựa làm bằng kim loại bản rộng 05cm, đầu mũi dao có mấu cong, đem vào phòng ngủ và để ở dưới gối, mục đích để đánh Y B. Khi Y B, A T đi vào phòng ngủ, A T chốt cửa phòng ngủ lại, Y B nói với A T “anh đừng uống rượu nữa” thì A T đã bực tức, lấy con dao rựa dưới gối ra xoay phần sống con dao rựa đánh vào gáy của Y B, làm Y B ngã gục m t xuống chiếu. Sau đó, Y B ng i dậy, A T tiếp tục cầm dao rựa chém từ trên xuống dưới vào vùng đầu của Y B, Y B đưa hai tay lên đỡ trúng vào 02 tay trái, tay phải của Y B, làm Y B ngã xuống dưới chiếu, A T tiếp tục dùng dao rựa chém liên tục nhiều nhát vào vùng đầu Y B làm Y B ngã xuống dưới chiếu nằm bất động, khi thấy trên ngư i Y B chảy nhiều máu A T dừng lại không chém nữa. Sau đó, A T b A Dú, A Điện bắt, khống chế và áp giải đến trụ sở Công an xã Đắk Ring, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Hậu quả b hại Y B tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 65%.

Xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nh t giữa vợ, ch ng mà b cáo đã lấy 01 con dao rựa là hung khí nguy hiểm chém liên tục vào vùng đầu của b hại là vùng trọng yếu trên cơ thể con ngư i. B cáo thừa nhận biết được hành vi của mình là nguy hiểm nhưng b cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, việc b hại không chết là ngoài muốn chủ quan của b cáo. Theo Án lệ số 47 2021 AL được Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 11 2021 và được công bố theo Quyết đ nh số 594 QĐ-CA ngày 31 12 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi đâm vào v trí trọng yếu trên cơ thể b hại của b cáo là hành vi giết ngư i. Hành vi nêu trên của b cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trư ng hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đ theo quy đ nh tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố đối với b cáo là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội và đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của b cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. B cáo là ngư i đ ng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đ c biệt khó khăn. B cáo phạm tội thuộc trư ng hợp phạm tội chưa đạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng n ng: B cáo không phải ch u tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự nào.

Về nhân thân: B cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội thấy rằng: Xét hành vi phạm tội của b cáo là đ c biệt nghiêm trọng, b cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện tội phạm với lỗi cố . Hành vi của b cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con ngư i được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần xử phạt b cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với các hành vi phạm tội và hậu quả mà b cáo đã gây ra. Cần cách ly b cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian dài, mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục b cáo biết tôn trọng pháp luật, tính mạng, sức khỏe con ngư i.

Tuy nhiên, hành vi phạm tội của b cáo thuộc trư ng hợp phạm tội chưa đạt, hậu quả chết ngư i chưa xẩy ra chỉ gây ra thương tích cho b hại là 65%. Căn cứ vào quy đ nh tại khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự Hội đ ng xét xử, sẽ xem xét khi lượng hình đối với b cáo.

Về trách nhiệm dân sự: B hại có đơn xin xét xử vắng m t và không yêu cầu b i thư ng gì nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 con dao rựa, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá tr nên t ch thu tiêu hủy.

Về án phí: B cáo là ngư i đ ng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đ c biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng Án lệ số 47 2021 AL được Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 11 2021 và được công bố theo Quyết đ nh số 594 QĐ-CA ngày 31 12 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên bố: B cáo A T phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: B cáo A T 13 Mư i ba năm tù, th i gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo b bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/02/2024).

2. Về xử l vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, t ch thu tiêu hủy: 01 con dao rựa có chiều dài 58cm, cán dao rựa bằng tre dài 30cm hình trụ tròn đư ng kính 03 cm, lưỡi dao rựa làm bằng kim loại bản rộng 05 cm, đầu mũi dao có mấu cong.

(Vật chứng trên có đ c điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum và Cục thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum ngày 21/6/2024).

3. Về án phí: Căn cứ điểm d Điều 12, Điều 14 Ngh quyết số 326 2016 UBTVQH ngày 30 12 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn giảm, nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho b cáo A T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. B cáo có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 (Mư i lăm ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30/7/2024) để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm. B hại vắng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 Mư i lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy đ nh của pháp luật.

Cỡ chữ