vanban.org

Bản án 21/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 22/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về án phí : Bị cáo Phạm Gia H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Gia H, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST
Ngày: 11/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phước Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đích - Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc - Nghề nghiệp: Cán bộ quận đoàn Sơn Trà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với:

* Bị cáo: Phạm Gia H. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày: 25/4/2007, tại thành phố Đà Nẵng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; ghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm B (chết) và bà Trần Thị Q, sinh năm 1985, chỗ ở: thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất (03 em là cùng mẹ khác cha với bị cáo). Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: ngày 22.11.2023 có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Công an quận T khởi tố vụ án, khởi tố bị can (Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 20.02.2024).

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Gia H: bà Trần Thị Q, sinh năm: 1985. Trú tại: thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (mẹ ruột của bị cáo), có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Gia H: Luật sư Nguyễn Ngọc C - là Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: anh Nguyễn P, sinh năm: 1993. Trú tại: D N, tổ D, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Công T, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2009. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ B phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S trong vụ án khác, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho Lê Công T: ông Lê Công T1, sinh năm: 1988 và bà Lê Thị Bích H1, sinh năm: 1992. Cùng trú tại: tổ A phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (là cha mẹ ruột Lê Công T), đều vắng mặt và bà Lê Thị Bích H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Nguyễn Quang T2, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2008. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ B phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở: A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Quang T2: ông Nguyễn Quang P1, sinh năm: 1971 và bà Cao Thị Thùy T3, sinh năm: 1978. Chổ ở: A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (là cha mẹ ruột Nguyễn Quang T2), đều vắng mặt.

3. Trần Văn L, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2008. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở: 150 N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho Trần Văn L: bà Trần Thị Y, sinh năm: 1972. Chổ ở: 150 N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (mẹ ruột của Trần Văn L), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 24.9.2023, Nguyễn Quang T2 (sinh ngày 03.8.2008); Lê Công T (sinh ngày 22.8.2009); Trần Văn L (sinh ngày 07.3.2008) và Phạm Gia H cùng nhau đi uống nước ở khu vực chợ C1, quận H. Sau đó, Trần Văn L rủ đi trộm cắp xe mô tô để L sử dụng thì cả nhóm đồng ý. Lê Công T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen mượn của người tên M (Không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ biển kiểm soát) chở L; Phạm Gia H điều khiển xe Wave màu xanh mượn của người tên T4 (Không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ biển kiểm soát) chở Nguyễn Quang T2 đi trên các tuyến đường của thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 25.9.2023, cả nhóm đi đến nhà số D N, phường T, quận S thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 của anh Nguyễn P đang dựng trước nhà, không có người trông coi nên cả nhóm dừng xe lại và Trần Văn L đi bộ đến dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 này ra bên ngoài, còn T, H, T2 đứng ngoài để chờ và canh chừng. Sau đó, Lê Công T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius để đẩy xe mô tô mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 vừa trộm cắp được do L điều khiển. Khi cả nhóm đẩy xe đến khu vực gần cây xăng trên đường N, TP . thì dừng lại để Huy đấu nối dây điện ổ khóa xe; đề nổ được xe nên đưa cho L điều khiển mang về nhà.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91.

Tại Kết luận số: 74 ngày 30.10.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 trị giá 8.000.000 đồng.

* Về dân sự: Anh Nguyễn P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS-ST ngày 29/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Gia H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa;

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của BLHS xử phạt bị cáo Phạm Gia H từ 06 đến 09 tháng tù. * Đối với Trần Văn L (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 15 tuổi 06 tháng 18 ngày), Nguyễn Quang T2 (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 15 tuổi 02 tháng 22 ngày), Lê Công T (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 14 tuổi 01 tháng 03 ngày), cả 03 đối tượng đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an quận S đã chuyển hồ sơ cho Công an quận S xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn P đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 43E1- 645.91 và không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên toà bị cáo Phạm Gia H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Luật sư Nguyễn Ngọc C bào chữa cho bị cáo Phạm Gia H thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp . truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị hội đồng xét xử cần xem xét nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo do tuổi đời còn nhỏ, bồng bột, thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi theo sự rủ rê của Trần Văn L, không nhằm mục đích tư lợi cá nhân, không được ăn chia gì. Bị cáo tự thú hành vi trộm cắp tài sản khi cơ quan điều tra chưa phát hiện, tài sản bị chiếm đoạt cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên thiệt hại xảy ra không lớn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh bị cáo khó khăn, cha bị cáo mất sớm, một mình mẹ bị cáo phải bươn chải nuôi con nên bị cáo vừa thiếu thốn về vật chất vừa thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình; người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự để xem xét, cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt, thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, tạo điều kiện cho bị cáo làm lại cuộc đời.

Ngoài ra, Luật sư còn đề nghị HĐXX không xác định hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo thực hiện ngày 22.11.2023 bị Công an quận T khởi tố vụ án, khởi tố bị can (Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 20.02.2024) là nhân thân của bị cáo vì chưa có bản án nào của Toà án tuyên bị cáo phạm tội.

Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của vị luật sư, không bổ sung thêm vấn đề gì khác, riêng người đại diện hợp pháp cho bị cáo xin HĐXX không áp dụng hình phạt giam đối với bị cáo.

* Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dưới 18 tuổi không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận:

Vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 25.9.2024, tại số nhà D N, phường T, quận S, bị cáo (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được 16 tuổi 05 tháng) cùng các đối tượng Trần Văn L (15 tuổi 6 tháng 18 ngày); Nguyễn Quang T2 (15 tuổi 02 tháng 22 ngày); Lê Công T (14 tuổi 1 tháng 3 ngày) đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 trị giá 8.000.000 đồng của anh Nguyễn P nhằm mục đích cho Trần Văn L sử dụng.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Bị cáo và các đối tượng trên là những thanh thiếu niên mới lớn, không lo tu chí học hành mà tụ tập lại với nhau chơi bời, lợi dụng sự sơ hở của người khác rồi lén lút chiếm đoạt tài sản là xe mô tô trị giá 8.000.000 đồng. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo Phạm Gia H được 16 tuổi 05 tháng, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo bị cáo Phạm Gia H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp . truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật. Bản thân bị cáo lại có nhân thân xấu, sau lần phạm tội này, ngày 22.11.2023 bị cáo lại tiếp tục có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Công an quận T khởi tố vụ án, khởi tố bị can (theo Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 20.02.2024), điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, biết ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế do đó cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. [4] Xét đề nghị của vị Luật sư về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo cũng phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. Riêng quan điểm của vị Luật sư đề nghị không xác định hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo thực hiện ngày 22.11.2023 bị Công an quận T khởi tố vụ án, khởi tố bị can (Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 20.02.2024) là nhân thân của bị cáo HĐXX thấy không có căn cứ. Luật sư còn cho rằng hành vi trộm cắp lần này là do bị cáo tự thú, tuy nhiên bị cáo khai ra lần trộm cắp này sau khi cơ quan công an đã thu giữ được tang vật trộm cắp từ Trần Văn L và Trần Văn L, Lê Công T đã thừa nhận toàn bộ hành trộm cắp nêu trên, vì vậy HĐXX không có căn cứ để xem xét áp dụng tình tiết tự thú đối với bị cáo theo đề nghị của vị Luật sư. Ngoài ra, HĐXX xét thấy mặc dù chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, mang biển kiểm soát 43E1 - 645.91 mà bị cáo và các đối tượng Trần Văn L, Nguyễn Quang T2, Lê Công T chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại nhưng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.000.000 đồng, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo và các đối tượng đã tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nên HĐXX không chấp nhận đề nghị của vị Luật sư về việc xác định thiệt hại xảy ra là không lớn để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. HĐXX cũng không có căn cứ để áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt, không chấp nhận ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị cáo về việc đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt giam đối với bị cáo. [5] Đối với Trần Văn L (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 15 tuổi 06 tháng 18 ngày), Nguyễn Quang T2 (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 15 tuổi 02 tháng 22 ngày), Lê Công T (tính đến thời điểm thực hiện hành vi 14 tuổi 01 tháng 03 ngày), cả 03 đối tượng đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an quận S đã chuyển hồ sơ cho Công an quận S xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn P đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 43E1- 645.91 và không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.

Án phí HSST: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của BLHS xử phạt bị cáo Phạm Gia H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí : Bị cáo Phạm Gia H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Gia H, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Văn L, Nguyễn Quang T2, Lê Công T và người đại diện hợp pháp của Trần Văn L, Nguyễn Quang T2, Lê Công T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ