vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 04/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Buôn lậu”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, Xử phạt Nguyễn Thị D số tiền 400.

TAND, VKSND Cấp cao tại Hà Nội; CA, VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội buôn lậu (điều 188 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Buôn lậu”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, Xử phạt Nguyễn Thị D số tiền 400.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày: 04/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh

Ông Trần Đăng Ninh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Giang Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Thị D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 08 tháng 5 năm 1973, tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: 09/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông: Nguyễn Văn L – Đã chết; Con bà: Lưu Thị T – Đã chết; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Dương Hữu T1; Sinh năm: 1962; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/10/2023 cho đến nay tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Phạm Quốc B; Sinh năm 1990; Trú tại: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lái xe; Có mặt. 2. Nguyễn Thiên H; Sinh năm 1983; Trú tại: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lái xe; Vắng mặt. 3. Trần Văn M; Sinh năm 1983; Trú tại: Số nhà B, đường số A, khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công chức hải quan; Có mặt. 4. Trần Anh T2; Sinh năm 1973; Trú tại: Số nhà B, đường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công chức hải quan; Có mặt. 5. Bùi Thị H1; Sinh năm 1983; Trú tại: Số nhà A, ngõ E đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Công chức hải quan; Có mặt. 6. Phạm Võ Khánh H2; Sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Công chức hải quan; Có mặt. Người làm chứng: Lê Văn T3; Sinh năm 1992; Trú tại: Xóm A Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị D, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thường xuyên kinh doanh, buôn bán hàng hóa giữa Lào và Việt Nam tại khu vực B2, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vào sáng ngày 16/8/2023, Nguyễn Thị D mượn xe ô tô tải, hiệu NISSAN, biển kiểm soát nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào UN-0954 của Phạm Quốc B (là con rể D) và thuê Nguyễn Thiên H, sinh năm 1983, trú tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh lái xe điều khiển ô tô tải biển kiểm soát L-0954 xuất phát từ thị trấn T, huyện H qua Cửa khẩu Quốc tế C đi sang Lào. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị D và Nguyễn Thiên H đi đến khu vực chợ L1, thuộc tỉnh Boolykhamxay, nước Lào. Nguyễn Thị D bảo Nguyễn Thiên H điều khiển xe đi vào kho hàng hóa bên trong chợ L1 để D trao đổi hàng hóa và nói Nguyễn Thiên H đi ăn để chiều lái xe về Việt Nam. Sau đó, Nguyễn Thị D đi đến kho hàng của một người Lào (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.370 thùng thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO (được đựng trong 137 bao tải) với giá 428.000.000 bạt (tiền Thái Lan) tương đương khoảng 300.000.000 đồng. Nguyễn Thị D thanh toán trước cho người Lào số tiền là 100.000.000 đồng, số tiền còn lại D xin nợ thanh toán sau. Số hàng hóa mà Nguyễn Thị D mua không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. Sau khi mua hàng xong, Nguyễn Thị D thuê người Lào (không rõ nhân thân, lai lịch) tại chợ L1 bốc 137 bao tải thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO vừa mua lên thùng xe ô tô biển soát Lào UN-0954 và lấy bạt phủ lại để vận chuyển về Việt Nam bán lại cho người khác kiếm lời. Để che dấu, tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, Nguyễn Thị D đã mua 20 bao than củi, chất phía sau số hàng hóa là thức ăn cho mèo. Sau đó, Nguyễn Thị D dặn Nguyễn Thiên H lái xe và đi về Việt Nam cùng với D. Trên đường đi, xe ô tô biển kiểm soát UN-0954 không dừng, đỗ để vận chuyển hàng hóa lên và xuống xe. Khi làm thủ tục thông quan tại Cửa khẩu Quốc tế B2, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để nhập cảnh vào Việt Nam, Nguyễn Thị D không khai báo đối với số hàng hóa là thức ăn cho mèo nhãn hiệu NEKKO mà chỉ khai báo trên xe ô tô có một số bao tải than củi Lào nên cán bộ của Cục Hải quan tỉnh H đã làm thủ tục cho xe ô tô biển kiểm soát UN-0954 thông quan nhập cảnh vào Việt Nam vào lúc 16 giờ 56 phút ngày 16/8/2023. Sau khi xe ô tô được thông quan đi qua Cửa khẩu Quốc tế B2 khoảng 100m có Lê Văn T3, sinh năm 1992, trú tại huyện Y, tỉnh Nghệ An xin đi nhờ xe được Nguyễn Thiên H đồng ý. Đến 18 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, khi Nguyễn Thiên H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát L-0954 chở Nguyễn Thị D đi đến địa phận tổ dân phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện thu giữ cũng tang vật. * Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 496/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh H kết luận: Thức ăn cho mèo nhãn hiệu NEKKO, quy cách 137 bao tải, mỗi bao 10 thùng, mỗi thùng 04 hộp, mỗi hộp 12 gói, mỗi gói 70 gam, có trị giá tại thời điểm tháng 8/2023 là 402.780.000 đồng. * Vật chứng, đồ vật, tài sản Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:

- Đối với 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu NISSAN, màu sơn xanh, biển kiểm soát L-0954. Kết quả điều tra đến nay xác định xe ô tô UN-0954 do Phạm Quốc B ký hợp đồng thuê phương tiện đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn X Ú Đôm, địa chỉ huyện V, tỉnh Viêng Chăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, do ông Séng Ú Đôm làm Giám đốc. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ xác định số khung, số máy của xe ô tô biển kiểm soát L-0954 với thông tin giấy tờ đăng ký và hợp đồng do Phạm Quốc B cung cấp nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ phương tiện UN-0954 và giấy tờ kèm theo để tiến hành kiểm tra, xác minh xử lý theo quy định.

- Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho Nguyễn Thị D 01 cuốn Hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.

- Đối với vật chứng của vụ án 137 bảo tải màu trắng bên trong chứa thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO, may kín hai đầu, quy cách đóng gói mỗi bao tải chứa 10 thùng (tổng số lượng 1.370 thùng) và 20 bao tải than củi đã thu giữ của Nguyễn Thị D được chuyển đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định. Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-P1 ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị D 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 188, Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là số hàng hóa đã thu giữ của Nguyễn Thị D gồm: 137 bao tải màu trắng bên trong chứa thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO, may kín hai đầu, quy cách đóng gói mỗi bao tải chứa 10 thùng (tổng số lượng 1.370 thùng) là công cụ, phương tiện phạm tội. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị D 20 bao tải than củi. Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung đã được nêu tóm tắt ở phần nội dung vụ án. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 16/8/2023 tại địa phận tổ dân phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an tỉnh H phối hợp với lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thị D đang có hành vi vận chuyển 137 bao tải hàng hóa thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO, từ Lào về Việt Nam qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế B2, thuộc huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để về Việt Nam bán lại cho người khác kiếm lời. Số hàng hóa trên Nguyễn Thị D không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và không thực hiện việc kê khai nhập khẩu theo quy định. Trị giá số hàng hóa trên theo Kết luận định giá tài sản tại thời điểm tháng 8/2023 là 402.780.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự. [3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo”; bị cáo Nguyễn Thị D là lao động chính trong gia đình, chồng bị cáo ông Dương Hữu T1 bị bệnh viêm tắc nghẽn phổi thường xuyên phải điều tại bệnh viện (có tóm tắt hồ sơ Bệnh án của ông Dương Hữu T1 do Bệnh viên đa khoa Cửa khẩu Quốc tế Cầu treo cấp ngày 12/12/2023) quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [4] Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, xâm hại đến lợi ích Nhà nước về kinh tế, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền để nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị xử hình phạt chính bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: - Đối với 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu NISSAN, màu sơn xanh, biển kiểm soát L-0954. Kết quả điều tra đến nay xác định xe ô tô UN-0954 do Phạm Quốc B ký hợp đồng thuê phương tiện đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn X Ú Đôm, địa chỉ huyện V, tỉnh Viêng Chăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, do ông Séng Ú Đôm làm Giám đốc. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ xác định số khung, số máy của xe ô tô biển kiểm soát L-0954 với thông tin giấy tờ đăng ký và hợp đồng do Phạm Quốc B cung cấp nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ phương tiện UN-0954 và giấy tờ kèm theo để tiến hành kiểm tra, xác minh xử lý theo quy định.

- Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho Nguyễn Thị D 01 cuốn Hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng là phù hợp.

- Đối với vật chứng của vụ án là số hàng hóa do Nguyễn Thị D vận chuyển trái phép gồm: 137 bảo tải màu trắng bên trong chứa thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO, may kín hai đầu, quy cách đóng gói mỗi bao tải chứa 10 thùng (tổng số lượng 1.370 thùng) là công cụ, phương tiện phạm tội, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Đối với vật chứng là 20 bao tải than củi đã thu giữ của Nguyễn Thị D cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. [7] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về mức án Kiểm sát viên đề nghị không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý kinh tế của của Nhà nước, làm giảm thu ngân sách Nhà nước, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích kinh tế nên không chấp nhận mức án Kiểm sát viên đề nghị mà áp dụng hình phạt tiền làm hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. [8] Những nội dung liên quan khác trong vụ án:

- Đối với Nguyễn Thiên H là lái xe điều khiển phương tiện xe ô tô biển kiểm soát UN-0954. Kết quả điều tra xác định Nguyễn Thiên H được Nguyễn Thị D thuê và trả tiền theo ngày để H lái xe đi sang Lào cùng với D. Việc Nguyễn Thị D mua hàng hóa và vận chuyển trái phép từ Lào về Việt Nam ngày 16/8/2023 thì Nguyễn Thiên H không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thiên H.

- Đối với Phạm Quốc B là người quản lý trực tiếp phương tiện xe ô tô biển kiểm soát UN-0954: Kết quả điều tra xác định, việc Nguyễn Thị D mượn xe ô tô của Phan Quốc B1 để đi sang Lào mua, vận chuyển trái phép hàng hóa từ Lào về Việt Nam vào ngày 16/8/2023 thì Phạm Quốc B không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phạm Quốc B.

- Đối với Trần Văn M, Trần Anh T2, Phạm Võ Khánh H2, Bùi Thị H1 là các cán bộ của Chi cục Hải quan Cửa khẩu quốc tế B2, tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp thực hiện việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ kê khai, kiểm tra, giám sát phương tiện xe ô tô biển kiểm soát UN-0954 nhập cảnh vào Việt Nam vào ngày 16/8/2023. Quá trình kiểm tra, giám sát, do Nguyễn Thị D không khai báo về số hàng hóa và hàng hóa được che giấu phía sau các bao tải than củi nên các cán bộ Hải quan không biết việc D vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Do đó không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn M, Trần Anh T2, Phạm Võ Khánh H2, Bùi Thị H1.

- Kết quả điều tra vụ án còn xác định, vào ngày 16/8/2023 Nguyễn Thị D còn có hành vi mua 20 bì than củi tại Lào đưa về Việt Nam để sử dụng cho gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 134/2016/NĐ-Chính phủ quy định “Miễn thuế đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới” và tại phụ lục V Nghị định quy định “Cư dân biên giới là công dân Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại các khu vực biên giới, người có giấy phép của cơ quan công an tỉnh biên giới cho cư trú ở khu vực biên giới được miễn thuế với trị giá hải quan không quá 2.000.000 đồng/1 người/1 ngày/1 lượt và không quá 4 lượt tháng”. Kết luận định giá tài sản số 496/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh H xác định 20 bao tải than Lào có giá trị tại thời điểm tháng 8/2023 là 745.000 đồng. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Nguyễn Thị D về hành vi nêu trên. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Buôn lậu”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, Xử phạt Nguyễn Thị D số tiền 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 137 bao tải màu trắng bên trong chứa thức ăn cho mèo, nhãn hiệu NEKKO, may kín hai đầu, quy cách đóng gói mỗi bao tải chứa 10 thùng (tổng số lượng 1.370 thùng) là công cụ, phương tiện phạm tội. Trả lại 20 bao tải than củi cho bị cáo Nguyễn Thị D. Tình trạng các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng số 24/2024 ngày 31/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. 3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).

Cỡ chữ