vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo A. 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 01/02/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Amyưp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày: 27/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân gồm: Bà Nguyễn Thị Định và ông Phạm Như Quỳnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Bửu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Võ Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/HSST, ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: A Sinh ngày 01/7/1990, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Làng Broch, xã A Dơk, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bana; Tôn giáo: Tin lành. con: H (đã chết), và bà: Am (sinh năm 1954).Gia đình bị cáo có 06 người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình, vợ tên H (sinh năm 1993) trú tại Glar, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân bị cáo: Năm 2005 bị cáo bị UBND huyện Đak Đoa lập hồ sơ đưa đi cơ sở giáo dưỡng, Năm 2008 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt bị cáo đã được xóa án tích, năm 2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt bị cáo đã được xóa án tích, năm 2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã chấp hành xong hình phạt bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Mang Yang từ ngày 01/02/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo A:

Ông Huỳnh Văn K - sinh năm 1984, (có mặt).

Luật sư thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai.

* Bị hại:

N, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Trú tại: Làng Brếp, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ch, sinh năm 1952

Trú tại: Làng Đê Tur, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

* Người phiên dịch:

Ông Đinh H, sinh năm 2004, (có mặt).

Trú tại: Làng jrokTu, xã Đak Yang, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/01/2024 đối tượng A (Sinh ngày: 01/7/1990) trú tại làng Broch, xã A Dơk, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai ngồi chơi cùng đối tượng Rlan Plưr (Sinh năm: 1989) trú tại làng Wâu, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, trong lúc ngồi nói chuyện thì Rlan Plưr rủ A đi trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu sài thì A đồng ý. Do không có phương tiện đi lại nên Rlan Plưr cùng A đón xe khách đi từ xã Chư Á, thành phố Pleiku đến thôn Hà Lòng, xã K’Dang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thì cả hai xuống xe rồi đi bộ dọc đường để tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày khi Rlan Plưr cùng A đi đến khu vực làng Brếp, xã Đak DJrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai thì cả hai nhìn thấy xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664, nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ của anh N (Sinh năm: 2004) trú tại làng Brếp, xã Đak DJrăng, huyện Mang Yang đang để trước sân nhà, xe đang cắm chìa khóa không có người trông coi. Sau đó Rlan Plưr đi bộ vào trong dắt xe ra đường, còn A ở ngoài cảnh giới. Khi Rlan Plưr dắt xe ra đến đường thì A bật chìa khóa khởi động xe chở Rlan Plưr đi về nhà cha của Rlan Plưr tại làng Wâu, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cất dấu đồng thời không nói với ai là xe trộm cắp được mà có. Khoảng 12 giờ 40 phút anh N phát hiện xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664 bị mất trộm nên tổ chức truy tìm và làm đơn báo cơ quan chức năng. Đến ngày 01/2/2024 nhận thấy hành vi của bản thân đã vi phạm pháp luật nên A đến Công an huyện Mang Yang đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô đã trộm cắp của anh N đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với đối tượng Rlan Plưr đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, không biết ở đâu, làm gì nên không thể tiến hành lấy lời khai để làm rõ hành vi phạm tội.

Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL - HĐĐGTS ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng huyện Mang Yang kết luận: 01 xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664, nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ trị giá 22.000.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664, nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ. Ngày 19/2/2024 anh N làm đơn xin lại tài sản nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mang Yang ra Quyết định xử lý vật chứng số: 134 ngày 21/02/2024 bằng hình thức trả lại cho anh N vật chứng đã thu giữ nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đã truy tố đối với bị cáo A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản anh N không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

Trong quá trình điều tra bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai ấy đã phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử. Xử phạt bị cáo A từ 12 đến 18 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Sau khi nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã chủ động đi đầu thú, nên luật sư đề nghị HĐXX xem xét cho bị báo được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định do muốn có tiền tiêu sài cho cá nhân nên khoảng 12 giờ ngày 26/01/2024 Rlan Plưr cùng A thực hiện hành trộm cắp xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664, nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ của anh N trú tại làng Brếp, xã Đak DJrăng, huyện Mang Yang trị giá 22.000.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ ngày 01/02/2024 A đến Công an huyện Mang Yang đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô đã trộm cắp của anh N đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó hành vi của bị cáo A đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng Rlan Plưr: Căn cứ lời khai của bị cáo A cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mang Yang đã tiến hành thu thập hình ảnh của Rlan Plưr để bị cáo A nhận dạng. Kết quả nhận dạng bị cáo A xác định Rlan Plưr là đồng phạm trong vụ trộm cắp xe mô tô vào ngày 26/01/2024. Tuy nhiên hiện đối tượng Rlan Plưr không có mặt tại nơi cư trú, không biết ở đâu, làm gì nên không thể tiến hành lấy lời khai để làm rõ hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mang Yang ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, truy tìm đối tượng Rlan Plưr xử lý theo quy định

Hành vi của bị cáo A là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Đồng thời ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:.

- Tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điệu tra và tại phiên Tòa bị cáo A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi tội phạm bị phát hiện bị cáo đã đến Công an huyện Mang Yang đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo vào năm 2005 bị cáo bị UBND huyện Đak Đoa lập hồ sơ đưa đi cơ sở giáo dưỡng, Bị cáo đã từng có bản án số: 34/2008 ngày 19/12/2008 Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai: Xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, và bản án số: 04/2014/HS-ST,Ngày 21/3/2014 Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai: Xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, và bản án số: 147/2015/HS-ST, Ngày 06/11/2015 Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy đã được xóa án tích, nhưng nhận thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, bị cáo không sửa chữa lỗi lầm mà vẫn còn tái phạm..

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Ch là người mang tên chiếc xe mô tô mang BKS: 81E1 – 166.64, nhãn hiệu: YAMAHA loại Exciter màu trắng đỏ có Giấy chứng nhân đăng ký mô tô bán cho anh N. Trong quá trình điều tra và tài liệu có trong hồ sơ vụ án ông Ch đã thể hiện rõ nguồn gốc của chiếc xe bán xe cho anh N là đúng sự thật, nên HĐXX không đề cập nữa.

Về phần dân sự:

- Sau khi nhận lại tài sản anh N không yêu cầu bị cáo A phải bồi thường. Tại phiên toà hôm nay Hội đồng xét xử không đề cập nữa.

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô mang BKS: 81E1 - 16664, nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ. Ngày 19/2/2024 anh N làm đơn xin lại tài sản nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mang Yang ra Quyết định xử lý vật chứng số: 134 ngày 21/02/2024 bằng hình thức trả lại cho anh N vật chứng đã thu giữ nêu trên nên HĐXX đề cập nữa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định. Yâm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo A. 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 01/02/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3.Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (27/6/2024) bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú.

Cỡ chữ