- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? hoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 3 – 2024 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Cảnh hang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Ngọc Điệp.
Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lưu im Hằng – iểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 433/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguy n Thị Hà D, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: Số H đường L, tổ B, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Thành Q, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: Số D đường L, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hà D trình bày:
Bà Nguy n Thị Hà D và ông Lê Thành Q tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau được hai bên gia đình đồng làm l cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 28/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại nhà của ba mẹ ông Q địa chỉ: Số D đường L, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến tháng 4/2022 thì phát sinh mâu thuẫn nên bà D cùng con chuyển về nhà ba mẹ đẻ địa chỉ: Số H đường L, tổ B, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp bất đồng quan điểm sống hai vợ chồng thường xuyên lớn tiếng cãi vã với nhau. Ông Q từ khi hết dịch bệnh không chịu đi làm, còn đi tụ tập ăn nhậu với bạn bè, mọi chuyện lớn, nhỏ và kinh tế gia đình đều do bà D gánh vác. Từ khi ly thân chuyển về nhà ngoại sinh sống đến nay, ông Q không hề gọi điện thoại hỏi thăm đến con cũng không chu cấp gì cho con, chỉ có ông bà nội cuối tuần đến rước cháu về chơi. Do đó, bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ để xây dựng gia đình nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Thành Q.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lê Quang H, sinh ngày 18/02/2021. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, bà D làm công nhân Công ty Cổ phần V lương thu nhập hàng tháng từ 9 đến 10 triệu đồng nên xác định đủ điều kiện để nuôi con ngoài ra còn có người nhà trong gia đình phụ chăm sóc con trong lúc đi làm.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Thành Q đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không cung cấp bản tự khai hay bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
+ Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng, các đương sự không bị hạn chế các quyền khi tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bị đơn ông Lê Thành Q có nơi cư trú tại địa chỉ: Số D đường L, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguy n Thị Hà D và ông Lê Thành Q tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 28/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Q là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của bà Nguy n Thị Hà D, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đến tháng 4/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn lớn tiếng cãi vã với nhau. Ông Q từ khi hết dịch bệnh không chịu đi làm, còn đi tụ tập ăn nhậu với bạn bè mọi chuyện lớn, nhỏ và kinh tế gia đình đều do một mình bà D gánh vác. Do đó, bà D đưa con về nhà ngoại sinh sống nên hai vợ chồng ly thân. Từ khi ly thân, bà D và ông Q không quan tâm gì đến nhau mảnh ai nấy sống.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm, mâu thuẫn thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Q không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc và dẫn đến mâu thuẫn giữa bà D và ông Q đã kéo dài. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Q không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai hay bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cho thấy ông Q không quan tâm và không mong muốn vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ để xây dựng gia đình cùng nhau chăm sóc con cái. Do đó, lời trình bày cũng như yêu cầu về việc ly hôn của bà D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà D và ông Q có 01 con chung tên Lê Quang H, sinh ngày 18/02/2021. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, từ khi ly thân con chung được bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu H hiện nay còn đang rất nhỏ nên rất cần được sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Bà D xác định hiện làm công nhân lương thu nhập hàng tháng từ 9 đến 10 triệu đồng và có người trong gia đình phụ chăm sóc trong lúc đi làm. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở giao cháu H cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguy n Thị Hà D.
Ý kiến của iểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Nguy n Thị Hà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- hoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguy n Thị Hà D đối với bị đơn ông Lê Thành Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguy n Thị Hà D được ly hôn với ông Lê Thành Q.
- Về con chung: Sau khi ly hôn, giao cho bà Nguy n Thị Hà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Lê Quang H, sinh ngày 18/02/2021.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguy n Thị Hà D về việc không yêu cầu ông Lê Thành Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Nguy n Thị Hà D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000959 ngày 20/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - V SND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - UBND phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Cảnh Khang |