vanban.org

Bản án 21/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho anh Vũ Minh H được ly hôn chị Trần Thị NA.

2- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 3- Về án phí: Buộc anh Vũ Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền anh H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xet xử vụ án ly hôn H - A"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ vợ chồng: Cho anh Vũ Minh H được ly hôn chị Trần Thị NA.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21/6/2024
V/v xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và bà Dương Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vũ Minh H, sinh năm 1996, có mặt.

Địa chỉ: Xóm V, xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12.

Bị đơn: Chị Trần Thị NA, sinh năm 1998, vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm V, xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn anh Vũ Minh H trình bày: Anh và chị NA kết hôn năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống anh và chị NA không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có gì.

Về nguyên nhân xin ly hôn: Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung do điều kiện kinh tế không ổn định và không có con được. Chị NA đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ đầu tháng 02/2024 đến nay, vợ chồng anh ly thân từ đó. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm đến nhau nữa, do đó anh đề nghị được ly hôn chị NA. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Trần Thị NA: Sau khi nhận được đơn khởi kiện của anh H quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị NA không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ngày 07/5/2024, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã LM, Công an xã LM, ban xóm V và gia đình chị NA xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho chị NA, gia đình chị NA nhận và đã thông báo cho chị NA biết, hiện nay chị NA vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Do chị NA không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử công khai.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy anh H và chị NA kết hôn năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh H cho anh H được ly hôn chị Trần Thị NA. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Án phí anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn là chị Trần Thị NA cư trú tại Xóm V, xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Về sự vắng mặt của bị đơn: Ngày 29/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của anh H về việc xin ly hôn đối với chị NA. Quá trình giải quyết vụ án chị NA không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 07/5/2024, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã LM, Công an xã LM, Ban xóm V và gia đình chị NA xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho chị NA, gia đình chị NA nhận và đã thông báo cho chị NA biết. Hiện nay chị NA vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương, chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Vũ Minh H và chị Trần Thị NA là cuộc hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Bởi lẽ trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc, tuy nhiên bắt đầu từ năm 2023 hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và không có con. Tại phiên tòa hôm nay, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị NA không còn, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H xin được ly hôn chị NA.

. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Bởi lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho anh Vũ Minh H được ly hôn chị Trần Thị NA.

2- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3- Về án phí: Buộc anh Vũ Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền anh H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0006544 ngày 29/02/2024.

4- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ