- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 4 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Diệu
Ông Phạm Đức Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Anh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị T; sinh năm: 1989; HKTT: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Làng C, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1; sinh năm: 1985; HKTT: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị T, anh T1. Chị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lò Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 12/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 12 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Khánh D, sinh ngày 20/01/2013 và cháu Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 10/3/2017. Hiện các cháu đang ở với anh T1. Nếu ly hôn, chị T giao cả hai cháu cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 12 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong quá trình vợ chồng đi làm ăn ở Hải Dương, anh bắt gặp chị T ở chung với người đàn ông khác nên vợ chồng xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Từ tháng 02/2023, chị T bỏ đi đâu anh không biết, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, các con còn nhỏ, cần sự chăm sóc của cả bố và mẹ nên anh có nguyện vọng muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu chị T cương quyết đề nghị giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Khánh D, sinh ngày 20/01/2013 và cháu Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 10/3/2017. Hiện các cháu đang ở với anh T1. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh T1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh T1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1. Giao cháu Nguyễn Văn Khánh D, sinh ngày 20/01/2013 và cháu Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 10/3/2017 cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Chị Lò Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn T1, nơi cư trú tại Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Chị Lò Thị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn T1 lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh T1 vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị T, anh T1.
Về hôn nhân: Chị Lò Thị T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai. Nếu chị T cương quyết ly hôn thì anh T1 cũng đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ chị T, anh T1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung. Xét thấy, hiện tại các cháu đang ở với anh T1. Cả hai cháu đều có nguyện vọng muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của các cháu. Chấp nhận yêu cầu của chị T và anh T1: giao cả hai cháu cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh T1, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị T, anh T1 không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Khánh D, sinh ngày 20/01/2013 và cháu Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 10/3/2017 cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lò Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số 0004161 ngày 27/12/2023. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị T, anh T1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện; - UBND xã Kiên Thọ; - Chi cục THADS huyện; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu HSVA; Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thịnh |