vanban.org

Bản án 21/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh ngày 14/8/2019 cho anh Nguyễn Thanh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-5-2024
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Hà Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và ông Y Nhơm

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 196/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ng, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Thanh T đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 22 tháng 5 năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Chị Ng và anh T đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hai bên có tìm hiểu nhau được một thời gian thì tiến đến hôn nhân. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên cuộc sống chung ngày càng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi cọ, mâu thuẫn trong việc làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái. Nay chị Ng nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Ng và anh T không thể tiếp tục được nữa, nên chị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Ng và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh ngày 14/8/2019, hiện cả hai con đang ở với bố. Chị Ng có nguyện vọng để anh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh T. Tuy nhiên bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa lần thứ nhất. Vì vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai được với bị đơn và không tiến hành hòa giải được vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và nội dung vụ án:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS).

+ Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Ng đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định. Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần lần 1 và lần 2, phiên tòa lần thứ nhất và lần 2 bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên Thẩm phán đã tiến hành lập biên bản và làm các thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên về hình thức tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

- Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh ngày 14/8/2019 cho anh Nguyễn Thanh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị Ng không yêu, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Thị Ng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Thanh T, anh T là bị đơn có nơi cư trú tại thôn Th, xã Th, huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

[2]. Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 BLTTDS để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chấp hành tốt. Bị đơn không chấp hành theo yêu cầu của Tòa án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt nên tại phiên tòa ngày 07/5/2024, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của BLTTDS. Quyết định hoãn phiên toà có thông báo thời gian mở lại phiên toà, đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh T đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 22/5/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Chị Ng và anh T đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do vậy xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị Ng và anh T là hôn nhân hợp pháp, việc kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên quá trình chung sống giữa chị Ng và anh T không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng lớn, tình cảm vợ chồng giữa chị Ng và anh T không còn, hai bên không có sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được.

Theo biên bản xác minh ngày 05/3/2024 tại địa phương, đại diện thôn Th, xã Th, huyện Đăk Mil đã xác nhận: Chị Ng và anh T trong cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn, hiện hai bên đã sống ly thân được 02 năm.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên chị Ng không còn tình cảm đối với anh T, hai người hiện đang sống ly thân; hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Ng là có cơ sở, cần chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Ng và anh T có 02 con chung cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh ngày 14/8/2019, hiện cả hai con đang ở với anh T. Chị Ng có nguyện vọng để anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Cháu Nguyễn Thị Thanh H và cháu Nguyễn Gia Kh đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc chấp nhận yêu cầu của bà Ng là phù hợp với điều kiện sinh sống hiện tại cũng như đảm bảo cho việc học tập cũng như phát triển toàn diện của con chung.

Chị Ng không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24/12/2013 và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh ngày 14/8/2019 cho anh Nguyễn Thanh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị Phạm Thị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân & gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Buộc chị Phạm Thị Ng phải chịu toàn bộ, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001623 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận

Cỡ chữ