- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thành-yến"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn của anh Đặng Đình Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số:21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-02-2024 V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhung
2. Ông Phạm Lành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung– Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 582/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về “Thay đổi người trực tiếp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 107/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đặng Đình Th, sinh năm 1984 (Có mặt)
HKTT: Tổ 5, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN
Bị đơn: chị Trần Hải Y, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
HKTT: Tổ 5, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN
Chỗ ở: Tổ 6, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:
Nguyên đơn anh Đặng Đình Th trình bày: Anh và chị Trần Hải Y trước đây là vợ chồng nhưng đã ly hôn năm năm 2022. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 220/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, về con chung, hai bên đã thống nhất thỏa thuận giao cho chị Trần Hải Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Sau khi ly hôn cháu Th, B và Quỳnh A ở với chị Y tại nhà ngoại ở tổ 6, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN. Tuy nhiên, sau khi đón các cháu về nhà ngoại thì chị Yến đã đi lấy chồng và sinh được 01 con riêng, sinh sống ở dưới Hà Nội cùng chồng con, thỉnh thoảng mới về, không trực tiếp chăm sóc các con mà để ông bà ngoại trông nom. Do đó, đầu năm 2023 anh đã đón các con về chăm sóc nuôi dưỡng. Nay anh nhận thấy chị Y không có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì hiện nay chị Yến đã lấy người khác và sinh thêm được 01 con riêng, các con hiện nay đang ở cùng anh, anh có công ăn việc làm thu nhập ổn định, anh làm công việc lái xe taxi thu nhập khoảng 20 triệu/tháng, cháu nhỏ nhất là Đặng Quỳnh A hiện nay học mẫu giáo cách nhà 1km anh là người đưa đón cháu đi học, anh chủ động được thời gian đưa đón các con đi học và chăm sóc các con. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thay đổi việc nuôi con đối với chị Trần Hải Yến và cho anh được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018,về cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu chị Yến cấp dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trần Hải Yến trình bày: Chị và anh Đặng Đình Thtrước đây là vợ chồng, và ly hôn năm 2022. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 220/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, về con chung, hai bên đã thống nhất thỏa thuận giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh Anh, sinh ngày 26/3/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Từ khi ly hôn chị và các con về nhà bố mẹ đẻ chị ở Tổ 6, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN sinh sống, sau đó chị lấy chồng và sinh được 01 con riêng, chị hiện nay đang chăm sóc con riêng và buôn bán làm ăn tự do(bán hàng ăn) ở dưới Hà Nội có thu nhập ổn định khoảng 30 triệu/tháng, các cháu Đặng Đình Th; cháu Đặng Trần Gia B, và cháu Đặng Quỳnh A chị gửi ông bà ngoại chăm sóc, cứ cuối tuần chị lại về thăm nom chăm sóc các con, chị vẫn cho các cháu ăn học đầy đủ, ông bà ngoại vẫn chăm sóc tốt cho các cháu, khi chị không ở nhà anh Th đã tự ý đón các cháu về nuôi. Nay anh Th làm đơn xin thay đổi nuôi con, chị nhất trí để anh Thnuôi cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012, còn cháu Đặng Quỳnh A sinh ngày 26/3/2018 là con gái, còn nhỏ thì chị không nhất trí để anh Thành nuôi dưỡng, chăm sóc mà chị sẽ là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi vì chị có đủ điều kiện, kinh tế chăm sóc cháu, sau khi giải quyết thay đổi nuôi con xong chị sẽ đón cháu Quỳnh A xuống Hà Nội sống cùng chị.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về nội dung giải quyết trong vụ án. Tuy nhiên, anh Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Y không nhất trí yêu cầu khởi kiện của anh Thvà đề nghị được nuôi cháu Đặng Quỳnh A.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn anh Đặng Đình Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị HĐXX thay đổi nuôi con sau khi ly hôn giao cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012, cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị chị Y cấp dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trần Hải Y thay đổi lời khai là chị chưa đăng ký kết hôn với ai nhưng chị có một người con gái riêng sinh ngày 16/4/2023, chị đề nghị HĐXX thay đổi nuôi con sau khi ly hôn giao cho anh Đặng Đình Thđược trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, còn cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành ầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 72 của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Điều 81, 82, 83, điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn anh Đặng Đình Th.
2. Giao con chung cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012, còn cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho anh Đặng Đình Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Th không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Chị Trần Hải Y được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
Ngoài ra, đề nghị tuyên về trách nhiệm chịu án phí và thông báo quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của anh Đặng Đình Th xin thay đổi nuôi con sau ly hôn đối với chị Trần Hải Y, sinh năm 1984, HKTT: Tổ 5, phường QV, thành phố TN, tỉnh TN, chỗ ở: Tổ 6, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp thay đổi nuôi con sau ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Đình Th về việc xin thay đổi nuôi con sau ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Theo quy định tại khoản 2, 3 của Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên…”
Xét điều kiện chăm sóc, giáo dục con chung của các bên, cũng như nguyện vọng của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên, HĐXX thấy rằng:
Anh Th và chị Y có 03 người con chung là cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia Bảo, sinh ngày 02/7/2012, cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 220/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: Về con chung, hai bên đã thống nhất thỏa thuận giao cho chị Trần Hải Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Đình Thuận, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Nay anh Th đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Yến chỉ nhất trí giao cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012, còn chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018. Quá trình giải quyết vụ án các cháu Đặng Đình Thuận, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 đều có nguyện vọng ở với bố.
Xét thấy điều kiện sinh hoạt của anh Thành ổn định hơn chị Yến, anh Thành hiện có công việc làm và thu nhập ổn định (theo báo cáo chốt cơ của công ty TNHH dịch vụ taxi miền Bắc lương anh Th khoảng 20 triệu đồng/tháng), hiện nay các con đều đang ở anh. Còn đối với chị Y theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 220/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên thì chị Yến là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi nhưng chị chưa thực hiện tốt vai trò của người mẹ. Sau ly hôn chị Yến có một con riêng là con gái sinh ngày 16/4/2013 và xuống Hà Nội làm ăn để các con cho ông bà ngoại chăm sóc thỉnh thoảng chị mới về thăm con. Hiện nay chị Y đang đi thuê nhà ở Hà Nội để ở và mở bán hàng ăn có thu nhập 30.000.000đ/tháng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào xác định chị có thu nhập 30.000.000đ/tháng, chị Y còn phải chăm sóc 01 con chung còn nhỏ chưa đủ 12 thyáng tuổi. Theo quy định Luật hôn nhân gia đình, khi cha mẹ ly hôn, người trực tiếp nuôi dưỡng con chung phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con trong sinh hoạt và trưởng thành, nay chị Y không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Đình Th giao con chung cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí: Anh Đặng Đình Th tự nguyện nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 81, Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn của anh Đặng Đình Th.
2. Giao con chung là cháu Đặng Đình Th, sinh ngày 07/4/2007; cháu Đặng Trần Gia B, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Đặng Quỳnh A, sinh ngày 26/3/2018 cho anh Đặng Đình Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Hải Y, do anh Đặng Đình Th không yêu cầu.
Chị Trần Hải Yến được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Đặng Đình Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu số 0002022 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - UBND P. Tân Thành,TP. Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Trần Thị Duyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Duyên |