- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Võ Văn Đ, ông Đ được ly hôn với bà Hồ Thị Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 21/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-4-2023 V/v Yêu cầu ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ-RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng.
Ông Nguyễn Văn Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 263/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 về việc “Yêu cầu ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 03 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa:
* Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1979, vắng mặt.
Địa chỉ: tổ 19, ấp M, xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
* Bị đơn: Bà Hồ Thị Q, sinh năm 1986, vắng mặt.
Địa chỉ: tổ 19, ấp M, xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2022, bản khai tiếp theo, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Võ Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà Q chung sống như vợ chồng vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, giấy đăng ký kết hôn số 16 ngày 19/5/2004 do ủy ban nhân dân xã L cấp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại ấp M, xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào khoảng thời gian năm 2021, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về kinh tế, tài chính, không ai quan tâm đến nhau, mâu thuẫn đến mức trầm trọng không thể sống chung nên vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay.
Về con chung có 02 người tên Võ Thị Kim D, sinh ngày 31/01/2004 và Võ Tấn Đ, sinh ngày 16/6/2005 tình trạng sức khỏe bình thường, cháu D đã thành niên, cháu Đ hiện đang sống cùng ông Đ.
Về tài sản chung, nợ chung không có.
Nay, ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Q; Về con yêu cầu được trực tiếp nuôi con chưa thành niên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn bà Hồ Thị Q vắng mặt tại phiên toà, trong quá trình thụ lý vụ án không triệu tập được bà Q nên không thu thập lời khai để biết ý kiến của bà Q đối với yêu cầu của ông Đ.
Ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Đối với bị đơn không chấp hành, không tham gia phiên hòa giải và xét xử.
- Về nội dụng vụ án: Căn cứ vào chứng cứ thu thập và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Đ xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, nghe ý kiến của Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ nhận định:
Về tố tụng: Ông Võ Văn Đ yêu cầu ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bà Hồ Thị Q có đăng ký thường trú tại xã L, huyện Đất Đỏ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Q được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt đủ căn cứ giải quyết vắng mặt đương sự theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Đ với bà Q là hôn nhân hợp pháp, trong thời gian sống chung giữa ông Đ và bà Q xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, theo ông Đ là do vợ chồng không hợp nhau, không quan tâm đến nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân, vợ chồng có hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Nay, ông Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn. Từ ngày thụ lý yêu cầu của ông Đ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bà Q không đến Tòa án, không cung cấp bản khai, không có ý kiến để xác định lời trình bày của ông Đ về tình trạng hôn nhân có đúng hay không. Hiện bà Q có đăng ký thường trú và đang sống ở địa phương, nhưng không tống đạt Đ trực tiếp các văn bản tố tụng phải qua niêm yết, bà Q không hợp tác đến tòa, điều này cho thấy bà Q không còn tha thiết gì về quan hệ vợ chồng, không đến Tòa án để tham gia hòa giải hàn gắn. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân, hiện tại nơi cư trú ông Đ và bà Q không còn sống chung. Như vậy, lời trình bày của ông Đ về tình trạng hôn nhân là có căn cứ, theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn Đ.
Về nuôi con chung: Ông Đ với bà Q có hai người con chung cháu Võ Thị Kim D, sinh ngày 31/01/2004 đã thành niên; Cháu Võ Tấn Đ, sinh ngày 16/6/2005 hiện đang sống cùng ông Đ, từ ngày sống ly thân ông Đ nuôi con chung, ông Đ có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, nên chấp nhận yêu cầu của ông Đ giao con chung chưa thành niên cho ông Đ nuôi dưỡng, ông Đ không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Võ Văn Đ, ông Đ được ly hôn với bà Hồ Thị Q.
2/- Về con chung: Ông Võ Văn Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 16/6/2005, ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn ông Đ, bà Q đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, bà Q có quyền thăm nom con chung mà không ai Đ cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
3/-Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4/-Về án phí: Ông Võ Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010095 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ; bà Hồ Thị Q không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 (7a, 7b) và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND H.Đất Đỏ; - CCTHADS; - UBND xã Long Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tiến |