vanban.org

Bản án 21/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi số tiền 11.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 yêu cầu bị đơn Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 – ông Phùng Ngọc K phải trả số tiền mua hàng còn nợ là 337.381.550 đồng (Ba trăm ba mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm năm mươi đồng), vì không có căn cứ. Về án phí: Căn c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TĐ LT - Chủ DNTN NK "Hợp đồng mua bán hàng hóa""
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi số tiền 11.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/KDTM-ST
Ngày: 19/12/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Ngâm và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Duyên – Kiểm sát viên. Trong các ngày 04 tháng 12 và ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2023/TLST-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2023; về tranh chấp“Hợp đồng mua bán hàng hóa”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/QĐXX-ST ngày 23/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QĐST-KDTM ngày 13/11/2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 26/2023/QĐST-KDTM, ngày 04/12/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1; Địa chỉ: B H, phường M, thành phố L, An Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí H, sinh năm: 1999 – Chuyên viên pháp lý; Địa chỉ: Tầng C, tháp Sarimi B, số G N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 164/UQ-TĐTL ngày 17/7/2023).

2. Bị đơn: Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 – ông Phùng Ngọc K, sinh năm: 1980; Địa chỉ: 2 L, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Ngày 01/4/2016, giữa Chi nhánh Công ty Cổ phần T1 tại Phú Yên có ký với ông Phùng Ngọc K – Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 Hợp đồng mua bán hàng hóa số 174/HĐMB.TĐLT để mua bán các loại hàng hóa là phân bón và vật tư nông nghiệp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần T1 đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên, ông Phùng Ngọc K – Chủ Doanh nghiệp tư nhận thương mại Ngọc K đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo thỏa thuận. Theo Giấy xác nhận nợ thì tính đến ngày 15/01/2019, Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 còn nợ Công ty Cổ phần T1 số tiền tổng cộng là 348.734.460 đồng; trong đó: tiền gốc là 337.381.550 đồng; tiền lãi phạt chậm thanh toán là 11.352.910 đồng.

Công ty Cổ phần T1 đã nhiều lần yêu cầu Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 phải thanh toán số tiền còn nợ nói trên nhưng bị đơn vẫn không thực hiện. Do đó, Công ty chúng tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 – ông Phùng Ngọc K phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T1 số tiền còn nợ tổng cộng là 348.734.460 đồng và lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 15/01/2019 cho đến khi xét xử.

* Bị đơn Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 đã được triệu tập lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có trình bày.

Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không được.

* Tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi 11.352.910 đồng và lãi chậm trả phát sinh; giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 – ông Phùng Ngọc K phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T1 số tiền gốc còn nợ là 337.381.550 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi suất; áp dụng Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền mua hàng còn nợ theo hợp đồng mua bán được ký kết giữa hai bên có tư cách pháp nhân, đều có mục đích lợi nhuận nên là tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự; việc Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:

Đối với yêu cầu trả lãi số tiền 11.352.910 đồng và lãi chậm trả phát sinh: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện này. Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận; đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu trả số tiền gốc mua hàng còn nợ, thấy: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền mua hàng còn nợ tính đến ngày 15/01/2019 là 337.381.550 đồng theo như Hợp đồng mua bán hàng hóa số 174/HĐMB.TĐLT ngày 01/4/2016, Giấy xác nhận công nợ từ ngày 01/01/2019 đến ngày 15/01/2019 và Báo cáo chi tiết nợ quá hạn từ ngày 01/01/2019 đến ngày 15/01/2019, được xác lập giữa nguyên đơn và bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã nhiều lần yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự và tại phiên tòa ngày 04/12/2023, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa theo yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn để nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ bổ sung; nhưng đến nay nguyên đơn chỉ cung cấp được tài liệu, chứng cứ là bản photocopy và bản scan, không có công chứng, chứng thực hợp pháp. Tại văn bản số 691/CV-TĐLT ngày 11/12/2023, nguyên đơn trình bày: “Tập đoàn T1 đã tổ chức rà soát, tìm kiếm nhưng do sai sót trong quá trình bảo quản, lưu trữ đã để thất lạc những tài liệu, chứng từ trên; nên không thể cung cấp được cho quý Tòa”. Nguyên đơn biết việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng có văn bản cam kết xác định tính hợp pháp của những tài liệu, chứng từ này và để đảm bảo quyền lợi của mình, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền mua hàng còn nợ là 337.381.550 đồng. Xét thấy: Theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp …”; Những tài liệu nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là bản photocopy, bản scan, không có công chứng, chứng thực hợp pháp, không có giá trị pháp lý, không được coi là chứng cứ nên không thể xác định được việc mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn có phải là sự kiện có thật hay không. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền mua hàng còn nợ là không có căn cứ nên không chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 91, 93, 95, 96 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi số tiền 11.352.910 đồng và lãi chậm trả phát sinh.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 yêu cầu bị đơn Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 – ông Phùng Ngọc K phải trả số tiền mua hàng còn nợ là 337.381.550 đồng (Ba trăm ba mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm năm mươi đồng), vì không có căn cứ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 phải chịu 16.869.000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; được trừ vào 8.718.000 đồng (Tám triệu bảy trăm mười tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0009919, ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa. Nguyên đơn còn phải nộp 8.151.000 đồng (Tám triệu một trăm năm mươi mốt nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Phú Yên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện KSND thành phố Tuy Hòa;

- Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Lê Mai

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Ngâm Nguyễn Thị Thu T

Trần Lê M

Cỡ chữ