- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Tuyết N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HSST Ngày: 20/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Song Hoàn
2. Ông Lê Văn Khoe
-Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Huỳnh Thị Tuyết N; sinh năm 1970 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT và nơi ở: đường L, Phường Th, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Họ tên cha: Lê M (đã chết); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị L (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 4; Có chồng là: Lý Hưng L (đã chết); Có 01 con, sinh năm 1991
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa chỉ: đường L, Phường Th, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (có mặt);
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm: 1959; nơi thường trú: đường C, Phường P, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 13/11/2022, Huỳnh Thị Tuyết N điều khiển xe mô tô, hiệu Honda Wave gắn biển kiểm soát 72L9 – 4468 chở người bạn tên Ánh (không rõ lai lịch) đi đến siêu thị Co.op Mart đường Nguyễn Thái Học, Phường 7, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mua đồ. N đến khu bán quần áo tại tầng 1 siêu thị để lựa quần áo. Trong khi lựa quần áo, N đứng nói chuyện với bà Nguyễn Thị Thu V (sinh năm: 1959; nơi thường trú: 121/21B Ba Cu, Phường 4, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) tại khu vực gần một dãy treo quần áo. Lúc này, N thấy một túi xách bằng vải màu xanh in chữ Puma đang treo trên dãy treo quần áo nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát thấy bà V và những người xung quanh không ai để ý, N đã nhanh chóng lấy chiếc túi, mang ra khỏi khu vực bán quần áo tầng 1 và cùng Ánh đi về. Khi về nhà ở số 159/4 Lê Lợi, phường Thắng Nhì, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, N mở chiếc túi xách, bên trong có một căn cước công dân mang trên Nguyễn Thị Thu V, số tiền 1.110.000 đồng và một sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K cùng một mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K.
Đến ngày 15/11/2022, Cơ quan Công an mời N lên làm việc. N đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.110.000 đồng và sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K có trọng lượng 1,11 chỉ. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, chỉ địa điểm cất giấu tài sản, N tự nguyện giao nộp thêm mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K có trọng lượng 0,25 chỉ.
Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Thị Tuyết N khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. N khai chiếm đoạt chiếc túi của bà V nhằm mục đích mang về kiểm tra, nếu có tài sản thì sẽ bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. N thực hiện hành vi phạm tội trên một mình, Ánh không biết về hành vi phạm tội của N.
Lời khai của bị cáo N phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị Thu V, phù hợp với các chứng cứ khác.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 221/KL-HĐĐG-TTHS ngày 25/11/2022, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân TP Vũng Tàu kết luận: một sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K có trọng lượng 1,11 chỉ và một mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K có trọng lượng 0,25 chỉ (tổng: 1,11 chỉ + 0,25 chỉ = 1,36 chỉ) tính đến thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 5.272.312 đồng.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
* Cơ quan chức năng đã thu giữ các vật chứng, tài sản gồm:
+ 01 túi xách màu xanh đen, có in chữ PUMA.
+ 01 sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K có trọng lượng 1,11 chỉ.
+ 01 mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K có trọng lượng 0,25 chỉ.
+ 01 căn cước công dâng mang tên Nguyễn Thị Thu V.
+ Số tiền: 1.110.000 đồng.
+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 72L9 – 4468, số máy: JC43E 1435644, số khung: JC313AY 174364. Qua xác minh xác định Huỳnh Thị Tuyết N là chủ sở hữu chiếc xe này
* Xử lý vật chứng:
Ngày 12/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định xử lý vật chứng số 79/QĐ-Đ1, trả lại: 01 túi xách màu xanh đen, có in chữ PUMA; 01 căn cước công dâng mang tên Nguyễn Thị Thu V; 01 sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K có trọng lượng 1,11 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K có trọng lượng 0,25 chỉ; số tiền: 1.110.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu V.
Vật chứng, tài sản còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu V đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm. Đồng thời có đơn xin bãi nại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 11/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Huỳnh Thị Tuyết N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N về tội “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Về vật chứng, đề nghị trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 72L9 – 4468, số máy: JC43E 1435644, số khung: JC313AY 174364 do đây không phải là công cụ phương tiện phạm tội trực tiếp.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động kiếm thu nhập nuôi sống bản thân và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, cùng kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 13 tháng 11 năm 2022, tại khu vực bán quần áo tầng 1 siêu thị Co.op Mart đường Nguyễn Thái Học, Phường 7, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Huỳnh Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 1.110.000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K có trọng lượng 1,11 chỉ và mặt dây chuyền hình phật di lặc màu xanh bọc vàng loại vàng 18K có trọng lượng 0,25 chỉ có giá trị 5.272.312 đồng của bà Nguyễn Thị Thu V. Tổng giá trị tài sản N chiếm đoạt của bà V là 6.382.312 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự: Xét Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản đã được thu hồi và trả lại toàn bộ cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình. Do đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Về nhân thân, điều luật áp dụng và hình phạt: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời xét bị cáo đã lớn tuổi, có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng vi phạm pháp luật. Đồng thời, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi bị khởi tố, được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cho tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong quá trình đó, bị cáo đã chấp hành tốt quy định, có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, xét thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là đã đủ nghiêm khắc đối với bị cáo và cũng đủ sức răn đe, giáo dục trong công tác phòng chống tội phạm nói chung. Cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người lần đầu phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 72L9 – 4468, số máy: JC43E 1435644, số khung: JC313AY 174364. Qua xác minh xác định Huỳnh Thị Tuyết N là chủ sở hữu chiếc xe này. Tuy nhiên, kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định, khi đi đến siêu thị coppmark ban đầu, bị cáo không có ý định trộm cắp tài sản mà là đi chợ mua đồ. Vì vậy, chiếc xe máy không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trực tiếp nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát trả lại xe trên cho bị cáo.
Đối với các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bị hại, không có ai khiếu nại hay yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Huỳnh Thị Tuyết N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 72L9 – 4468, số máy: JC43E 1435644, số khung: JC313AY 174364.
Vật chứng nêu trên hiện cơ quan thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu đang quản lý, lưu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 103/BB-CCTHADS ngày 01 tháng 02 năm 2023.
5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
7. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu văn thư, hồ sơ.
Phạm Thị Hiếu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Đặng Song Hoàn Lê Văn Khoe
Phạm Thị Hiếu Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; các bị hại; Người đại diện hợp pháp của các bị hại; NCQL&NVLQ
Phạm Thị Hiếu
- Lưu hồ sơ vụ án
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an tỉnh BR-VT (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Vũng Tàu; - Công an thành phố Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Bị cáo; bị hại; NCQL&NVLQ - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Thị Hiếu |