- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn VH chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 330 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HSST Ngày 15/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
T3 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chiến
Ông Trần Hải Đăng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Lương Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện TY.
Đại diện VKSND huyện TY tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.
Ngày 15/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TY mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2023/HSST ngày 28/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 15/5/2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA ngày 24/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2023/HSST-QĐ ngày 06/6/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1956; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn DD, xã YQ, huyện XY, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/10; Nghề nghiệp: Hiện đang là phạm nhân; Bố đẻ: Nguyễn Văn T (đã chết); Mẹ đẻ: Trịnh Thị T1 (đã chết); Vợ: Phạm Thị H1, sinh năm 1959; Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1995; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 05;
Tiền án: Ngày 15/8/2018 bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt 10 năm tù về tội giết người, hiện đang chấp hành án tại Phân trại B - Trại giam Z. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2017.
Tiền sự: Không;
Bị cáo đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số 438 ngày 27/9/2018 của Tòa án nhân dân T3 phố Hà Nội tại Phân trại B - Trại giam Z. Ngày 18/4/2023, bị can được đưa đến chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1989
HKTT: Khu XL, quận HĐ, thành phố Hà Nội.
Nơi làm việc: Cán bộ y tế của Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1994
HKTT: xã TM, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang
- Anh Chu Văn T3, sinh năm 1986
HKTT: thị trấn Đ, huyện X, tỉnh Lạng Sơn.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nông Diệp T4, sinh năm 1980
HKTT: xã C, huyện A, tỉnh Bắc Kạn.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Lưu Quang T5, sinh năm 1993
HKTT: xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1988
HKTT: xã T8, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại B – Trại giam Z
Địa chỉ: thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
(những người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 06 giờ ngày 07/02/2023, anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1989, đăng ký hộ khẩu tại Khu XL, quận HĐ, T3 phố Hà Nội là cán bộ y tế của phân trại số 4 - Trại giam Z- Cục C10- Bộ Công an tại thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang làm nhiệm vụ cấp phát thuốc cho các phạm nhân đang cải tạo tại phân trại. Phạm nhân Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 ở thôn DD, xã YQ, huyện XY, tỉnh Nam Định đang chấp hành án có đến xếp hàng ở sân trước khu Bệnh xá để xin thuốc do bị tê tay và viêm họng. Khi đến lượt nhận thuốc, H nói với anh M là: "Cho tôi xin viên thuốc đau đầu, đau tiền đình với lại tê tay, ho". Sau khi được anh M phát thuốc xong, H đi ra khu vực sân cạnh hành lang Bệnh xá uống hết một nửa số thuốc vừa được phát xong định đi về thì anh M gọi H và bảo: "Anh quay lại phòng, tôi gặp có chút việc" thì H đi vào phòng khám bệnh ngồi dưới đất ở cuối giường khám bệnh, cách vị trí anh M ngồi khám bệnh 2,1m. Sau đó, anh M hỏi H là: "Anh bị huyết áp cao, tại sao không xin thuốc huyết áp cao mà uống" thì H trả lời: "Tôi có rồi, tôi xin của anh hết án", anh M hỏi tiếp "Anh hết án là anh nào? Sao lại có thuốc huyết áp cho anh được?" H trả lời: "Tôi thấy anh nào về ném vào giường thì tôi nhặt, với lại thuốc của gia đình gửi vẫn còn". Nghe H nói vậy thì anh M giải thích cho H là: "Anh không được tích trữ thuốc, như vậy là sai. Lần sau tôi không phát thuốc cho anh nữa vì anh cứ xin thuốc lung tung và tự ý uống thuốc mà không có chỉ dẫn của cán bộ y tế". H tiếp tục trình bày với anh M về việc thuốc của gia đình gửi vào vẫn còn và không xin thêm thuốc huyết áp, sau đó H tự ý bỏ đi ra khỏi phòng. Khi H đi ra đến cửa phòng thì anh M gọi bảo: "Anh quay lại, tại sao không lấy thuốc huyết áp?". H đứng ở cửa phòng tiếp tục trình bày với anh M về việc ở phòng giam của H vẫn còn thuốc và nói với anh M là: "Tao sợ gì mày, bố mày đéo nói chuyện với mày, bố mày về". Khi H định bỏ đi thì anh M nói với H là: "Tôi yêu cầu anh đứng lại", mục đích là để giải thích thêm cho H biết việc không được uống thuốc khi không có chỉ dẫn của cán bộ y tế. Khi H quay người bỏ đi thì anh M đứng dậy đi đến gần vị trí H và dùng tay phải giữ vào cánh tay trái gần bả vai của H để giải thích rõ việc phạm nhân không được tích trữ thuốc. H quay người lại đứng đối diện, cách anh M khoảng 50cm, gạt tay anh M ra rồi dùng tay trái túm vào cổ áo, tay phải chỉ vào mặt anh M và chửi là: "Đ.M mày" 02 câu. Sau đó H dùng tay phải đấm 02 phát trúng vào vùng mặt bên phải và vùng mặt bên trái của anh M thì anh M dùng tay đẩy H ra nhưng H vẫn dùng tay trái túm giữ vào cổ áo của anh M, tay phải đấm tiếp 02 phát về phía mặt anh M nhưng anh M né người tránh nên đã đấm sượt qua vùng vai trái. H vừa đấm vừa chửi là: "Đ.M mày" hai lần. Thấy vậy, phạm nhân Nguyễn Thế T2 và phạm nhân Chu Văn T3 có mặt ở đó vào can ngăn, kéo H ra, sự việc chấm dứt. Sau đó cán bộ phân trại đưa H vào phòng làm việc để lập biên bản sự việc.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 108/CN ngày 09/02/2023 của Trung tâm y tế huyện TY xác định tình trạng lúc vào viện của anh Nguyễn Văn M: Vào viện lúc 10 giờ 29 phút ngày 09/02/2023: Vùng gò má bên phải, đuôi mắt phải nề đỏ kích thước mỗi vết khoảng 03cm đau khi thăm khám; giữa má bên trái nề đỏ đau khi thăm khám kích thước khoảng 3cm.
Tại kết luận giám định số 1267 ngày 09/3/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận thương tích của Nguyễn Văn M: Thương tích chạm thương đuôi mắt phải không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm thương gò má phải không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm thương giữa má bên trái không còn dấu vết: 0%. Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể Nguyễn Văn M là 0% (không phần trăm).
Quá trình điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Tiến hành thực nghiệm điều tra, H đã thực hiện thuần thục các động tác đánh anh M.
Tại thời điểm xảy ra sự việc, anh M đang làm nhiệm vụ cấp phát thuốc cho các phạm nhân đã thực hiện đúng quy trình, quy định của ngành Công an, mặc quân phục đúng điều lệnh, không có hành động, lời nói xúc phạm đối với phạm nhân H. Mục đích anh M yêu cầu H ở lại phòng khám để giải thích, hướng dẫn H sử dụng thuốc huyết áp theo quy định và giải thích việc phạm nhân không được tích trữ thuốc, việc uống thuốc phải theo chỉ dẫn của cán bộ y tế. Tuy nhiên H không chấp hành yêu cầu của anh M, đã có lời nói xúc phạm và dùng tay đấm nhiều phát vào vùng mặt của anh M, làm cho anh M không thực hiện tiếp nhiệm vụ của mình.
Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 26/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 10 – 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án bị cáo đang chấp hành. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 10 năm 10 tháng đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2017. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Trại giam Z; Cơ quan điều tra Công an huyện huyện TY; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TY trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng hơn 06 giờ ngày 07/02/2023, tại khu Bệnh xá Phân trại B - Trại giam Z tại thôn RD, xã ĐX, huyện TY, tỉnh Bắc Giang; anh Nguyễn Văn M là cán bộ y tế của Phân trại đang làm nhiệm vụ cấp phát thuốc cho các phạm nhân. Sau khi phát thuốc cho phạm nhân Nguyễn Văn H xong, anh M có hỏi lý do H không xin thuốc huyết áp để uống và giải thích cho H biết việc phạm nhân không được tích trữ thuốc tự uống, việc uống thuốc phải theo sự chỉ dẫn của cán bộ y tế. H không nghe, không chấp hành theo yêu cầu của anh M, có lời nói xúc phạm và dùng tay trái túm cổ áo anh M, tay phải đấm 02 phát trúng vào vùng mặt anh M, tỷ lệ tổn thương 0% (không phần trăm), gây cản trở anh M đang thi hành công vụ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã dùng vũ lực với anh M, làm cản trở anh M thi hành công vụ là chăm sóc y tế cho phạm nhân nên hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.
3. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại nơi giam giữ.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 15/8/2018 bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt 10 năm tù về tội giết người, hiện đang chấp hành án tại Phân trại B - Trại giam Z. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2017. Nay bị cáo lại cố ý phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã có thời gian tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng nhằm giáo dục bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
4. Anh M bị bị cáo đánh nhưng tỷ lệ tổn thương sức khỏe là 0% nên anh M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
5. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 10 (mười) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp với phần hình phạt 10 năm tù của bản án số 541/2018/HS-PT ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 (mười) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2017.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -TAND tỉnh Bắc Giang; - STP tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện TY; - CA huyện TY; - CCTHADS huyện TY; - Bị cáo, đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thế Đăng |