- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Ngọc T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HSST Ngày: 25/04/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thắng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Ngọc;
Bà Nguyễn Thị M Huyền;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Th O,
thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2022/TLST - HS ngày 27/03/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 01 năm 1989 tại: huyện Tr, TP Hà Nội; Nơi cư trú: thôn Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Tr, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Trương Văn Th, sinh năm 1958 (đã chết); Họ tên mẹ: Lăng Thị M, sinh năm 1964; Anh, chị em ruột: Có 2 người, bị cáo là thứ hai; Vợ là Vũ Thị Hồng Nh, sinh năm 1986; Có một con sinh năm 2017.
Tiền án: không.
Tiền sự: 01: Ngày 29/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tr ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 04/01/2023 bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tr khởi tố bị can về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội theo Lệnh tạm giam số 24 ngày 04/01/2023 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tr, TP Hà Nội. Tại phiên tòa có mặt.
Người bị hại: Ông Nguyễn Đắc T1, sinh năm 1965.
Trú tại: Thôn Siêu Quần, xã Tả Th O, huyện Tr, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 22/9/2022, Đỗ Quốc K sinh năm 1984, trú tại: thôn Đỗ Hà, xã K Hà, huyện Thường Tín, TP Hà Nội đang ở nhà thì Trương Ngọc T sinh năm 1989, trú tại: thôn Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Tr, TP Hà Nội đến nhà rủ K sang xã H, huyện Th O trộm cắp tài sản, K đồng ý. Sau đó T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (T, K không nhớ số biển kiểm soát) chở K sang địa phận thôn Thiên Đông, xã H. Đến khoảng 10 giờ 30 phút, khi hai đối tượng đi đến khu vực trước cửa nhà số 2, đường xóm Sông Cầu, thôn Thiên Đông, xã H, hai đối tượng phát hiện có một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 31-496-P2 của ông Nguyễn Đắc T1 sinh năm 1965, trú tại: thôn Siêu Quần, xã Tả Th O, huyện Tr, TP Hà Nội (ông T1 đến thôn Thiên Đông để làm việc) đang dựng ở vệ đường không có người trong giữ. Thấy vậy, K liền nhảy xuống xe đi đến vị trí chiếc xe máy trên và dắt đi. Do không nổ máy được nên K ngồi lên xe cầm lái, còn T điều khiển xe máy của mình đi phía sau và dùng chân phải đạp vào bàn để chân bên trái của chiếc xe máy K trộm cắp được để tẩu thoát nhanh hơn. Khi hai đối tượng đi đến khu vực nghĩa trang thôn Liễu Nội, xã K Hà, huyện Thường Tín, TP Hà Nội thì có anh Nguyễn Đình Th1, sinh năm 1985, trú tại: thôn Thiên Đông, xã H, huyện Th O, TP Hà Nội điều khiển xe máy chở ông Nguyễn Đắc T1 đuổi theo phía sau và hô hoán “Trộm xe máy”. Thấy vậy, K liền bỏ chiếc xe máy vừa trộm cắp lại bên đường và chạy bộ vào thôn Liễu Nội, xã K Hà, còn T thì điểu khiển xe máy bỏ chạy thoát. Khi chạy được khoảng 40-50 mét thì K bị ông T1, anh Th1 cùng người dân bắt giữ và giao cho công an xã K Hà.
Về tang vật thu giữ:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 31-496-P2 màu nâu tím, số khung 0111306, số máy 0111306.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Th O kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 31-496-P2 màu nâu tím, số khung 0111306, số máy 0111306 tại thời điểm ngày 22/9/2022 có giá trị 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Ngày 23/9/2022, công an xã K Hà đã bàn giao đối tượng Đỗ Quốc K, tang vật cùng hồ sơ vụ án cho Công an huyện Th O để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th O đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Quốc K về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Trương Ngọc T, qua xác M xác định T không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo thời gian giải quyết vụ án, ngày 15/11/2022 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th O đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của Trương Ngọc T để điều tra theo quy định pháp luật.
Ngày 10/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Th O đã xét xử, tuyên phạt Đỗ Quốc K 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định Trương Ngọc T đang bị cơ quan CSĐT - Công an huyện Tr, TP Hà Nội khởi tố, tạm giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th O đã tiến hành ghi lời khai của T, T thừa nhận cùng với Đỗ Quốc K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 22/9/2022 đúng như nội dung nêu trên.
Về việc xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 31-496-P2 là của ông Nguyễn Đắc T1. Vì vậy, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông T1. Ông T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì. Việc xử lý vật chứng là có căn cứ.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu trắng Trương Ngọc T dùng làm phương T1 chở Đỗ Quốc K đi trộm cắp tài sản, T khai không nhớ biển kiểm soát, đây là xe máy của T mua lại của một người không quen biết và đã bán cho người khác vào tháng 10/2022 (T không nhớ bán cho ai). Vì vậy, không đủ căn cứ để xem xét xử lý chiếc xe trên.
Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 23/03/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O truy tố bị cáo Trương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung phản ánh của bản cáo trạng và đều tỏ ra ăn năn hối cải, xin được hưởng sự khoan hồng của Pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Ngọc T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/9/2022 tại khu vực trước cửa nhà số 2, đường xóm Sông Cầu, thôn Thiên Đông, xã H, huyện Th O, TP Hà Nội; Trương Ngọc T lợi dụng sơ hở trong việc trông giữ tài sản của ông Nguyễn Đắc T1, đã chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 31-946-P2 của ông T1 có giá trị 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Ngọc T phạm tội “trộm cắp tài sản” căn cứ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Gây mất trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nhất định để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản. Hiện không có yêu cầu bồi thường gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo tính hợp pháp của các quyết định tố tụng và đảm bảo đúng trình tự tố tụng.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản. Hiện không có yêu cầu bồi thường gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt. Có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 25 tháng 4 năm 2023.
Người bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Th O; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Thắng |