vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/01/2023 và được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 21/12/2022. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày 29/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm Tòa án nhân dân:

1. Ông Thái Quang Định.

2. Bà Hoàng Thị Thanh Hền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố U tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1976; tại Hện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: tổ 1A, khu 1, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Cao Thị T.T (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đầu thú ngày 14/12/2022, bị tạm giữ đến ngày 21/12/2022 thì áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 15/01/2023 bị bắt tạm giam do vi phạm nghĩa vụ khi bị Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Nguyễn Trọng T, sinh ngày 11/02/2010.

Địa chỉ: Tổ 11, khu 2, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 11, khu 2, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; (Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đều từ chối trợ giúp pháp lý). Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 11, khu 2, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

+ Cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 11/10/2010.

Địa chỉ: tổ 35, khu 6, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện hợp pháp của cháu H: chị Phạm Thị K, sinh năm 1990, địa chỉ: tổ 35, khu 6, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định, Nguyễn Văn V nảy sinh ý định đến sân bóng trên địa bàn thành phố U để trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ ngày 22/11/2022 V đi bộ đến khu vực sân bóng nhà máy điện thuộc khu 3, phường T, thành phố U thì thấy chiếc xe đạp địa hình, màu sơn cam, nhãn hiệu Giant Talon của cháu Nguyễn Trọng T, sinh năm 2010, trú tại: Tổ 11, khu 2, phường T, thành phố U, dựng cạnh cổng xếp sắt sân bóng. Cháu T đang chơi bóng trong sân nên không quản lý xe. Thấy vậy, V đến lấy xe điều khiển chiếc xe đạp đi về Trung tâm thành phố U. Do chưa bán được xe nên V dùng chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Đến ngày 14/12/2022, Nguyễn Văn V đầu thú tại Công an thành phố U và giao nộp chiếc xe đạp trên, ngoài ra còn giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s vỏ màu đen bạc, bên ngoài có ốp nhựa màu xanh in chữ “PUMA”. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên do V trộm cắp của cháu Trần Tuấn K, sinh năm 2009, trú tại tổ 35, khu 9, phường Quang Trung, thành phố U vào khoảng 20 giờ ngày 10/12/2022 tại sân bóng quảng trường thành phố U, thuộc tổ 4, khu 4, phường Quang Trung. Lúc này cháu K đang đá bóng nên không trông coi tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố U kết luận: 01 chiếc xe đạp địa hình, màu sơn cam, nhãn hiệu Giant Talon, số khung K9GK54559, đã qua sử dụng, có giá là: 8.223.333 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, vỏ màu đen bạc, bên ngoài có ốp nhựa màu xanh in chữ “PUMA” đã qua sử dụng có giá là 1.333.333 đồng.

Đối với hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 6s trị giá 1.333.333 đồng của V chưa đến mức chịu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố U đã xử phạt hành chính đối với V về hành vi trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng V khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Quá trình điều tra cháu Nguyễn Trọng T khai với nội dung: Khoảng 16 giờ ngày 22/11/2022, cháu T cùng với bạn là cháu Hoàng Gia H điều khiển xe đạp cá nhân, loại xe địa hình, nhãn hiệu GIANT TALON, màu nâu cam đến đến khu vực sân bóng nhà máy nhiệt điện U thuộc tổ 21, khu 3, phường T, thành phố U để đá bóng, khi đến nơi cháu để xe ở cổng xếp sắt nhà máy điện (cạnh cổng sân bóng), khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, cháu T cùng cháu H ra về thì phát hiện xe đã bị kẻ gian trộm cắp. Sau khi sự việc xảy ra, bố cháu là ông Nguyễn Trọng H đã đến cơ quan công an trình báo. Sau này cơ quan điều tra làm rõ Nguyễn Văn V là người đã trộm cắp chiếc xe đạp nêu trên. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/3/2023, cháu Nguyễn Trọng T có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn V. Về trách nhiệm dân sự, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho cháu T, nay cháu không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường.

Quá trình điều tra, Đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng H khai với nội dung: Ngày 27/3/2022, ông Hải mua chiếc xe đạp địa hình, nhãn hiệu GIANT TALON cho con trai là Nguyễn Trọng T dùng để đi học. Tối ngày 22/11/2022, khi đi làm về ông được con trai kể việc mất trộm chiếc xe đạp nêu trên. Khi cháu T lên mạng xã hội Facebook thấy đăng hình ảnh chiếc xe đạp có đặc điểm giống như xe của cháu T nên ông đã cùng con trai đến Công an thành phố U trình bày sự việc. Sau này cơ quan điều tra làm rõ Nguyễn Văn V là người đã trộm cắp chiếc xe đạp nêu trên. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/3/2023, ông Nguyễn Trọng H có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn V. Về trách nhiệm dân sự, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho cháu T, nay ông không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường.

Người làm chứng cháu Hoàng Gia H khai với nội dung: Ngày 22/11/2022 cháu và bạn là Nguyễn Trọng T đến sân nhà máy nhiệt điện U đá bóng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, cháu H nhìn thấy một người đàn ông khoảng 45 tuổi đi xe đạp của T trong sân khu tập thể nhà máy nhiệt điện U. Sau khi đá bóng xong, thì phát hiện T bị mất xe đạp.

Tại Cáo trạng số 10/CT - VKSUB ngày 22/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố U giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Nguyễn Văn V như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 12 đến 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/01/2023 và trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 21/12/2022.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú lập hồi 08 giờ 00 phút ngày 14/12/2022 của Công an thành phố U; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh, vật chứng thu giữ và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá giải sản trong tố tụng hình sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/11/2022 tại khu vực Sân bóng Nhà máy điện thuộc khu 3, phường T, thành phố U, Nguyễn Văn V trộm cắp của cháu Nguyễn Trọng T 01 chiếc xe đạp địa hình, màu sơn cam, nhãn hiệu Giant Talon trị giá 8.223.333 đồng (tám triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, một khách thể được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi tội phạm với người dưới 16 tuổi, do vậy bị cáo chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo được bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe đạp địa hình, màu sơn cam, nhãn hiệu Giant Talon; số khung K9GK54559 là tài sản của cháu Nguyễn Trọng T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình cháu T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về các vấn đề khác: Ngày 10/12/2022, Nguyễn Văn V có hành vi trộm cắp của cháu Trần Tuấn K, sinh năm 2009, địa chỉ: tổ 35, khu 9, phường Quang Trung, thành phố U 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, vỏ màu đen bạc, bên ngoài có ốp nhựa màu xanh in chữ “PUMA” đã qua sử dụng có giá là 1.333.333 đồng. Ngày 06/02/2023 Nguyễn Văn V đã bị Công an thành phố U xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/01/2023 và được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 21/12/2022.

2. Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại cháu Nguyễn Trọng T; đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ