vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn X 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Xinh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS - ST
Ngày 09 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đẳng

Ông Trịnh Thanh Trần

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mẵn - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Thành Được - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đào Văn X, sinh ngày 01/01/1979; nơi sinh: Huyệ n U Minh, tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp 1, xã K, huyện U, tỉnh C; nơi ở hiện nay: Ấp 6, xã K, huyện U , tỉnh C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đào T (chết) và bà Danh Thị L (chết); Bị cáo có vợ đã ly hôn và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023 đến nay (bị cáo có mặt).

- Người bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp 2, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo X: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường – Là trợ giúp viên pháp lý nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 31/10/2022, tại ấp 2, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, bị cáo Đào Văn X đã lợi dụng ông Lê Văn T ngủ say, thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A52S 5G, nắp lưng màu xanh của ông Lê Văn T. Theo kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự điện thoại bị cáo X lấy trộm có trị giá 4.145.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A52S 5G, nắp lưng màu xanh, cơ quan điều tra đã trả lại ông Lê Văn T; 01 USB màu đỏ, lưu trữ file hình ảnh bị cáo Đào Văn X đến của hàng điện thoại chí Ngoan để sửa chữa điện thoại di động do X lấy trộm của ông Lê Văn T vào ngày 31/10/2022.

Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Đào Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, không oan sai cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại Lê Văn T đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bị cáo X phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Văn X từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Về tang vật của vụ án: không xem xét. Về trách nhiện dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo, trình bày bào chữa: Bị cáo thừa nhận trộm điện thoại của ông T Thống nhất với cáo trạng của viện kiểm sát truy tố bị cáo X và thống nhất với mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo X là người dân tộc, trình độ học vấn thấp nên nhận thức kém; bị cáo X thành khẩn khai báo; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức án thấp nhất theo Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U Minh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đào Văn X khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 31/10/2022, X một mình đi soi nhái, đi đến nhà của ông Lê Văn T, ấp 2, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, thấy nhà ông Thanh còn mở cửa và mở đèn sáng nên đi vào nhà định rũ Thanh nhậu thì thấy Thanh ngủ say, bị cáo phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A52S 5G, nắp lưng màu xanh ở dưới nền nhà ngay phía giường ngủ của ông Thanh nên lấy trộm rồi đi về nhà chị ruột tên Đào Thị N ngủ. Do có người gọi đến bị cáo sợ bị phát hiện mà không biết mật khẩu mở máy để tắt nguồn nên bị cáo cạy điện thoại để tắt nguồn. Do cạy mạnh hôm sau máy không mở nguồn được, bị cáo mang điện thoại đến tiệm điện thoại Chí Ngoan để sửa chữa, sau đó bị phát hiện hành vị bị cáo lấy trộm điện thoại của ông T

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng của vụ án. Tổng giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 4.145.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Đào Văn X phạm tội trộm cắp tài sản nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy trộm điện thoại của ông Thanh, mục đích là để bán tiêu sài cho cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo cần có một mức án tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt ngoài phạm tội lần này bị cáo không có tiền án tiền tiền sự.

Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Đào Văn X từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có căn cứ và thỏa đáng.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian để bị cáo học tập, lao động trở thành người công dân tốt, chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Lê Văn T đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A52S 5G, nắp lưng màu xanh, quá trình điều tra đã trả lại cho ông Lê Văn T, phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.

- 01 USB màu đỏ, lưu trữ file hình ảnh bị cáo Đào Văn X đến của hàng điện thoại chí Ngoan để sửa chữa điện thoại di động do X lấy trộm của ông Lê Văn T vào ngày 31/10/2022, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đào Văn X phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn X 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023 .

- Về xử lý vật chứng: 01 USB màu đỏ, lưu trữ file hình ảnh bị cáo Đào Văn X đến của hàng điện thoại chí Ngoan để sửa chữa điện thoại di động do X lấy trộm của ông Lê Văn T vào ngày 31/10/2022, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đào Văn X phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ