vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo V và H đã bồi thƣờng cho Ah Lê Minh Lý và Ah Nguyễn Minh Hùng số tiền 3.600.000 (Ba triệu sáu trăm nghìn) đồng và Ah Lý, Ah Hùng không yêu cầu gì khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bảo A cùng đp Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày: 20-4-2023

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa : ông Nguyễn Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn V Quốc;

2. Ông Trần V Hùng.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Võ Trƣờng Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lê Bảo A (tên gọi khác: Kem), sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cƣ trú: khu phố L Tr, phƣờng Gia L, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ V hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê V M và bà Trần Thị Kim C; vợ, con: chƣa có; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 10//2020/QĐ-TA ngày 19/3/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong. Về nhân thân: tại Quyết định số 62/QĐ-XPVPHC ngày 11/8/2016 của Công A huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi ''Xâm hại đến sức khỏe ngƣời khác'', chƣa nộp phạt; tại Quyết định số 90/QĐ-TA ngày 18/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 30/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công A thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

2. Huỳnh Thế C, sinh năm 1991, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký HKTT: ấp B L, xã B M, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp T H, xã T B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ V hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh V C (chết) và bà Ngô Minh Ph; vợ, con: chƣa có; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 27/2020/QĐ-TA ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về nhân thân: tại Bản án số 15/2009/HSST ngày 20/01/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội ''Cƣớp giật tài sản''; tại Bản án số 13/2013/HSST ngày 30/01/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội ''Trộm cắp tài sản''; tại Quyết định số 24/QĐ-TA ngày 14/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; tại Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; tại Quyết định số 27/QĐ-TA ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 30/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công A thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

3. Võ Trung H, sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cƣ trú: khu phố L Tr, phƣờng Gia L, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ V hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành R và bà Phạm Thị T; vợ, con: chƣa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công A thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

4. Nguyễn Linh T, sinh năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cƣ trú: khu phố GH, phƣờng Tr B, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ V hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V H và bà PhA Thị Th; vợ, con: chƣa có; tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: tại Quyết định số 64/QĐ-XPVPHC ngày 11/8/2016 của Công A huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi ''Xâm hại đến sức khỏe ngƣời khác''. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 30/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công A thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

5. Ngô Phố V, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký HKTT: ấp ThT, xã Th L, huyện CTh, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: khu phố HH, phƣờng AH, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ V hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô V Rồng và bà Thân Thị Mỹ; vợ: Nguyễn Thị Ngọc Thơ và 01 ngƣời con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 03/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng và tại Quyết định số 45/QĐ-XPHC ngày 05/6/2022 của Công A xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi ''Sử dụng trái phép chất ma túy''. Về nhân thân: tại Bản án số 79/2016/HSST ngày 08/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội ''Cố ý gây thƣơng tích''. Bị cáo bị giam trong vụ án khác tại trại tạm giam Công A tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

6. Võ Phi H (tên gọi khác: CL), sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cƣ trú: ấp CN, xã PT, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mƣớn; trình độ V hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hữu Hạnh (chết) và bà Võ Thị Bé; vợ: Ngô Thị Hồng Đào và 01 ngƣời con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: tại Quyết định số 148/2012/QĐ-UBND ngày 27/7/2012 của UBND huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở giáo dục bắt buộc 18 tháng về hành vi ''Gây rối trật tự công cộng''; tại bản án số 75/2016/HSST ngày 11/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội ''Chống ngƣời thi hành công vụ''; tại bản án số 79/2016/HSST ngày 08/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội ''Cố ý gây thƣơng tích''. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công A thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

Bị hại:

1. Ah Nguyễn Minh H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Suối Cao A, xã Phƣớc Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Ah Đoàn Nhật M, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp 8, xã Phƣớc Tân Hƣng, huyện Châu Thành, tỉnh Long A. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

3. Ah Nguyễn Hữu C, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp Tầm LAh, xã Hiệp Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA:

1. Ah Lê Minh L, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố L Hòa, phƣờng L Hƣng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

2. Ah Đặng Hoàng Ng, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp Xóm Mới, xã ThAh Phƣớc, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 03/4/2022, sau khi uống rƣợu bia, Võ Phi H, Ngô Phố V, Lê Bảo A và Huỳnh Thế C cùng một số ngƣời khác đến quán Karaoke “Quỳnh Trâm” thuộc khu phố L Tr, phƣờng Gia L, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để hát karaoke. Sau đó, V đến thAh toán tiền thì xảy ra mâu thuẫn với Ah Đặng Hoàng Nghĩa là quản lý của quán, H đến cA ngăn và cả nhóm ra về. Trên đƣờng đi, V kể lại sự việc mâu thuẫn với Ah Nghĩa cho H nghe và rủ H quay lại đánh Ah Nghĩa thì H đồng ý. V chở H đến đoạn Quốc lộ 22 thuộc khu phố Hòa Hƣng, phƣờng A Hòa, thị xã Trảng Bàng mua 03 cây rựa bằng kim loại, dài 80 cm với giá 500.000 đồng, V gọi điện thoại cho A kể lại vụ việc và kêu A và C đến quán Karaoke Quỳnh Trâm để đánh Ah Nghĩa, A và C đồng ý. A điều khiển xe mô tô chở C đi trên tuyến đƣờng tránh Xuyên Á thuộc khu phố Tân L, phƣờng Gia L đến quán Karaoke Quỳnh Trâm thì C nhìn thấy V điều khiển xe mô tô chở H phía sau có cầm theo 03 cây rựa, C nói cho A biết và kêu A chạy theo. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đến quán Quỳnh Trâm, H đƣa cho C cầm 01 cây rựa cùng A đứng chặn ở cửa nhằm không cho ngƣời và phƣơng tiện ra vào quán, H và V mỗi ngƣời cầm một cây rựa đi vào quán tìm Ah Nghĩa nhƣng không thấy, khi quay ra sân thì V thấy xe ô tô loại 09 chỗ, nhãn hiệu Hyundai, biển số 70A-243.84 do Ah Nguyễn Minh Hùng đAg điều khiển ra ngoài, do nghi ngờ Ah Nghĩa ngồi trong xe, V kêu A và C chặn xe ô tô Ah Hùng lại, V chạy đến bên pH và H chạy đến bên trái xe ô tô kêu Ah Nghĩa xuống xe nhƣng không đƣợc. Lúc này, V cầm rựa bằng tay pH chém 01 cái vào phần kính bên pH và 01 cái vào cản sau xe ô tô, H cầm rựa chém 01 cái vào phần kính bên trái xe ô tô gây hƣ hỏng. Sau đó, cả nhóm đi về, Ah Hùng đến C quA công A trình báo.

Ngoài ra, khoảng từ cuối tháng 4/2022 đến đầu tháng 5/2022, do không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài và thƣờng xuyên tổ chức uống rƣợu, bia với nhau nên Lê Bảo A rủ, phân công nhiệm vụ cho Huỳnh Thế C, Võ Trung H và một ngƣời tên Phú (không rõ nhân thân, địa chỉ) cùng A đi đến các quán cà phê trên địa bàn thị xã Trảng Bàng để đe dọa, uy hiếp tinh thần và yêu cầu chủ quán đƣa tiền “bảo kê” để đảm bảo cho quán hoạt động kinh doAh bình thƣờng, còn A sẽ cùng Nguyễn Linh T đi thu tiền hàng tháng thì tất cả đồng ý. Bằng phƣơng thức trên, nhóm của A đã thu tiền 02 quán cà phê tại khu phố Phƣớc Hậu, phƣờng Gia Bình, thị xã Trảng Bàng, cụ thể nhƣ sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng cuối tháng 4/2022, A, H, C và Phú đến quán cà phê biển hiệu “368” đe dọa, uy hiếp Ah Đoàn Nhật Minh (là chủ quán) pH đƣa số tiền 1.500.000 đồng/tháng, nhƣng Ah Minh không có tiền, A lấy số điện thoại của Ah Minh và đƣa cho Ah Minh số điện thoại của A. Sau đó, A liên tục gọi điện thoại đe dọa, uy hiếp tinh thần buộc Ah Minh đƣa tiền. Đến khoảng 22 giờ ngày 02/5/2022, trong lúc đAg uống rƣợu bia cùng với Phú, H, C và T thì Ah Minh điện thoại cho A kêu lấy tiền, A kể cho T nghe về việc đã đe dọa và uy hiếp buộc các chủ quán cà phê đƣa tiền và rủ T đi lấy tiền thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở A đến quán cà phê “368” gặp Ah Minh lấy số tiền 1.500.000 đồng. Lấy đƣợc tiền cả nhóm tiếp tục đi uống rƣợu, bia.

- Vụ thứ hai: Khoảng cuối tháng 4/2022, A, Phú, H và C đến quán cà phê biển hiệu “PiPi” đe dọa, uy hiếp tinh thần buộc Ah Nguyễn Hữu Chất (là chủ quán) đƣa số tiền 3.000.000 đồng/tháng, Ah Chất nói không có tiền, A lấy số điện thoại của Ah Chất và đƣa cho Ah Chất số điện thoại của A. Sau đó, A liên tục điện thoại đe dọa, uy hiếp tinh thần Ah Chất và thống nhất đƣa cho A số tiền 1.000.000 đồng/tháng. Khoảng đầu tháng 5/2022, trong lúc A đAg uống rƣợu, bia cùng với Phú, H, C và T thì Ah Chất điện thoại cho A kêu lại lấy tiền, A kể cho T nghe và rủ T cùng đi thì T đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở A đến quán cà phê “PiPi” gặp Ah Chất lấy số tiền 1.000.000 đồng. Lấy đƣợc tiền cả nhóm tiếp tục đi uống rƣợu bia.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) kính cửa pH xe Hyundai Starex trị giá 1.167.000 đồng; 01 (một) vè che mƣa xe Hyundai Starex trị giá 341.000 đồng; 01 (một) vết trầy xƣớc cản sau trái xe Hyundai Starex trị giá 1.000.000 đồng. Tổng cộng: 2.508.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSTrB ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Bảo A và Huỳnh Thế C về các tội “Cƣỡng đoạt tài sản” và “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 170 và khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự; bị cáo Võ Trung H và Nguyễn Linh T về tội “Cƣỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Phố V và Võ Phi H về các tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản” và “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát trong phần trAh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội dAh nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo A từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo A từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích” và đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Thế C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Thế C từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích” và đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Trung H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù và xử phạt Nguyễn Linh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”;

- Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Phố V từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Phố V từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích” và đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Phi H từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Phi H từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích” và đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo V và H đã bồi thƣờng cho Ah Hùng số tiền 3.600.000 đồng và Ah Hùng không yêu cầu gì thêm nên ghi nhận; đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo A, C, T, H bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại Minh số tiền 1.500.000 đồng, bồi thƣờng cho bị hại chất 1.000.000 đồng và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về bào chữa: các bị cáo thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì bào chữa cho mình.

Về nói lời nói sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên C sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: bị cáo Ngô Phố V, bị hại Nguyễn Minh Hùng, Đoàn Nhật Minh, Nguyễn Hữu Chất và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA Lê Minh Lý có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và Ah Đặng Hoàng Nghĩa vắng mặt nhƣng lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc xét xử vắng mặt những ngƣời này không ảnh hƣởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quA cảnh sát điều tra Công A thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của C quA tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quA tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội dAh: trong quá trình điều tra, cũng nhƣ tại phiên toà, các bị cáo Lê Bảo A, Huỳnh Thế C, Nguyễn Linh T, Võ Trung H và Võ Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; bị cáo Ngô Phố V vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong quá trình điều tra bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản hiện trƣờng, biên bản nhận dạng, vật chứng, kết luận định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh đƣợc nhƣ sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 03/4/2022, Lê Bảo A và Huỳnh Thế C có hành vi giúp sức cho Ngô Phố V và Võ Phi H chuẩn bị 03 cây rựa, dài khoảng 80cm, lƣỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đến quán Karaoke “Quỳnh Trâm” thuộc khu phố L Tr, phƣờng Gia L, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhằm gây thƣơng tích cho Ah Đặng Hoàng Nghĩa nhƣng không thành. V và H tiếp tục dùng rựa chém gây hƣ hỏng nhiều bộ phận xe ô tô biển số 70A-243.84 của Ah Nguyễn Minh Hùng trị giá 2.508.000 đồng.

Ngoài ra, từ khoảng cuối tháng 4/2022 đến đầu tháng 5/2022, tại khu phố Phƣớc Hậu, phƣờng Gia Bình, thị xã Trảng Bàng, Lê Bảo A, Huỳnh Thế C, Võ Trung H và Nguyễn Linh T đã đe dọa, uy hiếp tinh thần chiếm đoạt của Ah Đoàn Nhật Minh chủ quán cà phê “368” số tiền 1.500.000 đồng, của Ah Nguyễn Hữu Chất chủ quán cà phê “PiPi” số tiền 1.000.000 đồng.

Đối với hành vi “Cƣỡng đoạt tài sản”, Lê Bảo A là ngƣời chủ mƣu, bàn bạc và thống nhất phân chia nhiệm vụ với Huỳnh Thế C, Nguyễn Linh T, Võ Trung H, các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trƣờng hợp phạm tội có tổ chức.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ C sở kết luận bị cáo Lê Bảo A và Huỳnh Thế C phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản” và “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 170 và khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự; bị cáo Võ Trung H và Nguyễn Linh T phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Phố V và Võ Phi H phạm tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản” và “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. bị cáo V và H đã bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại Hùng xong; bị cáo A, T gia đình có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ đƣợc Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Bảo A, Huỳnh Thế C, Nguyễn Linh T, Võ Trung H ''Cƣỡng đoạt tài sản'' của ngƣời khác 02 lần, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: bị cáo A, C, V, H có nhân thân xấu, mỗi bị cáo đều có 01 tiền sự về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo A đã từng nhiều lần bị đƣa vào C sở cai nghiện và giáo dục bắt buộc;

Bị cáo C đã từng bị áp dụng biện pháp hành chính đƣa vào C sở giáo dục bắt buộc và từng bị xử lý hình sự về hành vi ''Cƣớp giật tài sản'' và ''Trộm cắp tài sản''.

Bị cáo T từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ''Xâm hại sức khỏe ngƣời khác''.

Bị cáo V từng bị xử lý hình sự về hành vi ''Cố ý gây thƣơng tích''.

Bị cáo H từng bị đƣa vào C sở cai nghiện bắt buộc và từng bị xử lý hình sự về hành vi "Cố ý gây thƣơng tích'' và ''Chống ngƣời thi hành công vụ''.

Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:

Vụ án mAg tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác và các quy định về trật tự công cộng đƣợc pháp luật bảo vệ nên pH chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn thực hiện.

Trong vụ án “Cƣỡng đoạt tài sản”, Lê Bảo A là ngƣời chủ mƣu, bàn bạc và thống nhất phân chia nhiệm vụ với Huỳnh Thế C, Nguyễn Linh T, Võ Trung H, các bị cáo có sự bàn bạc, phân công, câu kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội và phạm tội 02 lần.

Đối với hành vi ''Cố ý gây thƣơng tích'' và ''Cố ý làm hƣ hỏng tài sản'', chỉ mAg tính tự phát, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án tƣơng xứng với tính chất, vai trò phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời giA để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý nhƣ sau:

Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận bị cáo V và H đã bồi thƣờng cho Ah Lê Minh Lý và Ah Nguyễn Minh Hùng số tiền 3.600.000 đồng và Ah Lý, Ah Hùng không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo A, C, T, H đồng ý liên đới bồi thƣờng cho Ah Đoàn Nhật Minh 1.500.000 đồng và bồi thƣờng cho Ah Nguyễn Hữu Chất 1.000.000 đồng nhƣ Ah Minh và Ah Chất yêu cầu nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng nhƣ sau:

- 01 (một) cây rựa dài 80cm, phần cán bằng gỗ dài 47cm, đƣờng kính cán gỗ dài 03cm, phần lƣỡi bằng kim loại dài 33cm, phần lƣỡi rộng nhất 06cm; 01 (một) cây rựa dài 80cm, phần cán bằng gỗ dài 48cm, đƣờng kính cán gỗ dài 04cm, phần lƣỡi bằng kim loại dài 32cm, phần lƣỡi rộng nhất 06cm; 01 (một) cây rựa có cán gỗ hình tròn trụ tròn, đƣờng kính 03cm, dài 92cm, phần lƣỡi rựa bằng kim loại, có một cạnh sắt, đầu lƣỡi nhọn cong dài 31cm, nơi rộng nhất 5,5cm, đƣợc đánh số 01; 01 (một) cây rựa có cán gỗ hình trụ tròn, đƣờng kính 3,4cm, dài 89cm, phần lƣỡi rựa bằng kim loại, có một cạnh sắt, đầu lƣỡi nhọn cong dài 31,4cm, nơi rộng nhất 5,3cm, đƣợc đánh số 2; 01 (một) quyền tập học sinh, bên ngoài có chữ “LÀNG HƢƠNG”, bên trong có ghi số điện thoại. Đây là các vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xám đen, số sê-ri: 359726049905158 và 01 (một) sim số: 0353893379, bị cáo A dùng làm phƣơng tiện liên lạc để thực hiện tội phạm nên tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu đen, số IMEI 1: 866787052001414, số IMEI 2: 866787052001406 và 01 (một) sim số: 0937116930, là tài sản cá nhân của bị cáo A không liên quA đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo A.

Ghi nhận các vật chứng khác của vụ án, C quA Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về án phí: các bị cáo A, C, T, H, V, H, mỗi bị cáo pH chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo A, C, T, H, mỗi bị cáo pH chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thƣờng vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với ngƣời tên Phú mà A, C khai nhận cùng A và C thực hiện hành vi phạm tội, hiện chƣa xác định đƣợc lý lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Các bị cáo chƣa gây thƣơng tích cho Ah Đặng Hoàng Nghĩa và ghi nhận Ah Nghĩa cũng không có yêu cầu gì khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo A (Kem) 04 (Bốn) năm tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”; căn cứ Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo A (Kem) 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Lê Bảo A (Kem) pH chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 22/11/2022.

2. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thế C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thế C 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Huỳnh Thế C pH chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm tù. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 22/11/2022.

3. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Trung H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 04/01/2023;

4. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Linh T 03 (Ba) năm tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 22/11/2022;

5. Căn cứ Khoản 1 Điều 178; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Phố V 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Phố V 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Ngô Phố V pH chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

6. Căn cứ Khoản 1 Điều 178; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Phi H (Cu La) 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; áp dụng Khoản 6 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Phi H (Cu La) 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Võ Phi H (Cu La) pH chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời giA chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 19/11/2022.

7. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Ghi nhận bị cáo V và H đã bồi thƣờng cho Ah Lê Minh Lý và Ah Nguyễn Minh Hùng số tiền 3.600.000 (Ba triệu sáu trăm nghìn) đồng và Ah Lý, Ah Hùng không yêu cầu gì khác.

+ Ghi nhận tại phiên tòa, bị cáo A, C, T, H đồng ý liên đới bồi thƣờng cho Ah Đoàn Nhật Minh 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng và bồi thƣờng cho Ah Nguyễn Hữu Chất 1.000.000 (Một triệu) đồng nhƣ Ah Minh và Ah Chất yêu cầu. Cụ thể nhƣ sau: bị cáo A pH bồi thƣờng cho Ah Chất số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng; bị cáo C, H, T, mỗi bị cáo pH bồi thƣờng cho Ah Minh số tiền 5.00.000 (Năm trăm nghìn) đồng (tổng cộng là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây rựa dài 80cm, phần cán bằng gỗ dài 47cm, đƣờng kính cán gỗ dài 03cm, phần lƣỡi bằng kim loại dài 33cm, phần lƣỡi rộng nhất 06cm; 01 (một) cây rựa dài 80cm, phần cán bằng gỗ dài 48cm, đƣờng kính cán gỗ dài 04cm, phần lƣỡi bằng kim loại dài 32cm, phần lƣỡi rộng nhất 06cm; 01 (một) cây rựa có cán gỗ hình tròn trụ tròn, đƣờng kính 03cm, dài 92cm, phần lƣỡi rựa bằng kim loại, có một cạnh sắt, đầu lƣỡi nhọn cong dài 31cm, nơi rộng nhất 5,5cm, đƣợc đánh số 01; 01 (một) cây rựa có cán gỗ hình trụ tròn, đƣờng kính 3,4cm, dài 89cm, phần lƣỡi rựa bằng kim loại, có một cạnh sắt, đầu lƣỡi nhọn cong dài 31,4cm, nơi rộng nhất 5,3cm, đƣợc đánh số 2; 01 (một) quyền tập học sinh, bên ngoài có chữ “LÀNG HƢƠNG”, bên trong có ghi số điện thoại.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xám đen, số sê-ri: 359726049905158 và 01 (một) sim số: 0353893379;

+ Trả cho bị cáo A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu đen, số IMEI 1: 866787052001414, số IMEI 2: 866787052001406 và 01 (một) sim số: 0937116930.

Ghi nhận các vật chứng khác của vụ án, C quA Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

8. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thƣờng vụ Quốc hội, các bị cáo A, C, T, H, V, H, mỗi bị cáo pH chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo A, C, T, H, mỗi bị cáo pH chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

9. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ