- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 18-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàng
Bà Nguyễn Ngọc Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Đ Thị Hi u Ly – Thư T a án nh n d n huy n T n Thạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn T , bà Nguyễn Thị Ch u – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở T a án nh n d n huy n T n Thạnh, ti n hành xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số: 12/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quy t định hoãn phiên t a số 05/QĐHST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Trần Thị N; Sinh ngày: 01/01/1989; Nơi sinh: huy n C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An; Nghề nghi p: Làm thuê (Công nhân); Trình độ học vấn: 08/12; D n tộc: Kinh; Quốc tịch: Vi t Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con của ông Trần Văn B, sinh năm 1967 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1970; Chồng tên Lê Trung H, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2016); Có 01 người con, sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên t a).
- hại: Chị Nguyễn Thị Tú H1, sinh năm: 2000. Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huy n T, tỉnh Long An (có mặt).
- Người làm chứng: Chị Phan Thanh N2, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 31/12/2022, Trần Thị N, điều hiển xe mô tô, hi u Sirius màu trắng, biển số 83P3-785.50 một mình đi từ nhà ở ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An đ n ti m T1 của chị Phan Thanh N2 ở hu d n cư xã T thuộc ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An để mua đồ dùng cá nh n. Trong lúc đang mua đồ tại ti m tạp hoá, N nhìn thấy 01 đi n thoại di động hi u Iphone 12 Promax 128GB, màu đen, ốp lưng màu xanh blue của chị Nguyễn Thị Tú H1 bỏ quên trong thùng bánh để trước cửa tại ti m tạp hóa, lúc này N nảy sinh định trộm cắp đi n thoại trên đem về để sử dụng. N đi lại nơi để đi n thoại giả vờ chọn bánh và lén lút lấy trộm đi n thoại bỏ vào túi quần bên phải của N. Sau hi trộm được đi n thoại N đi vào trong quán tính tiền và đi ra điều hiển xe mô tô về nhà. Trên đường về, N sợ bị phát hi n nên đã lấy đi n thoại vừa trộm được đem cất giấu cặp mé Kênh Bảy D thuộc ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An, cách nhà N hoảng 500 mét và đi về nhà. Sau hi phát hi n bị mất trộm tài sản chị Nguyễn Thị Tú H1 đã trình báo Công an xã T, huy n T. Qua điều tra Trần Thị N hai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Tại Bản K t luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 09/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huy n T. K t luận: 01 đi n thoại di dộng hi u Iphone 12 PROMAX 128G, màu đen, lưng màu xanh, số máy MGCX3J/A, số sê ri: F2LDVOB4OD4H trị giá là 16.633.500 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSTT, ngày 27/4/2023 của Vi n iểm sát nh n d n huy n T n Thạnh truy tố bị cáo Trần Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại di n Vi n iểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời ph n tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Trần Thị N g y ra, các tình ti t tăng nặng, giảm nh trách nhi m hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt chính: căn cứ hoản 1 Điều 173; điểm i, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt: bị cáo Trần Thị N từ 06 tháng đ n 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đ n 02 năm.
Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra hông thu giữ vật chứng nên hông đề cập yêu cầu xử l .
Về hình phạt bổ sung: đề nghị hông áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhi m d n sự do bị hại đã nhận lại được tài sản và hông có yêu cầu về trách nhi m d n sự nên hông đề cập
Tại phiên t a bị cáo hông có i n tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để đi làm nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n, Vi n iểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hi n đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo và những người tham gia tố tụng hác hông có người nào có i n hoặc hi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng thực hi n đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Tại phiên t a, bị hại và người làm chứng vắng mặt đ n lần thứ hai. T a án đã ti n hành tống đạt hợp l Quy t định đưa vụ án ra xét xử, quy t định hoãn phiên t a, giấy tri u tập phiên t a đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đ n vụ án và người làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
[3] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên t a bị cáo Trần Thị N hai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hi n đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời hai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a. Có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 31/12/2022, tại ti m T1, thuộc ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An, Trần Thị N lén lút thực hi n hành vi trộm cắp 01 đi n thoại di dộng hi u Iphone 12 Promax 128GB, màu đen, ốp lưng màu xanh blue, số máy MGCX3J/A, số sê ri: F2LDVOB4OD4H của chị Nguyễn Thị Tú H1. Tài sản trộm cắp trị giá 16.633.500 đồng. Hành vi của bị cáo đã x m phạm đ n quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người hác được pháp luật bảo v . Tại thời điểm thực hi n hành vi chi m đoạt tài sản, bị cáo là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố thực hi n do nảy sinh l ng tham hi nhìn thấy tài sản của bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Vi n iểm sát nh n d n huy n T n Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại đã nhận lại tài sản bị chi m đoạt. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo đã x m phạm tài sản thuộc quyền quản l , sở hữu của người hác được pháp luật bảo v và g y mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo cần phải được xử phạt theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và ph ng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình ti t tăng nặng, giảm nh trách nhi m hình sự và nh n th n của bị cáo.
[4.1] Xét về tình ti t tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo hông có tình ti t tăng nặng trách nhi m hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
[4.2] Xét về tình ti t giảm nh trách nhi m hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên t a, bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng hưởng tình ti t giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm i, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo hó hăn, bị cáo và chồng đã ly hôn, con chung do bị cáo trực ti p nuôi dưỡng; bị cáo có ông ngoại tên Trần Văn D1 tham gia cách mạng là thương binh hạng 3/4. Do đó, bị cáo được xem xét giảm nh trách nhi m hình sự theo quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
[4.3] Về nh n th n:
Bị cáo Trần Thị N có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Xét thấy bị cáo có hai tình ti t giảm nh trách nhi m hình sự theo quy định tại hoản 1 Điều 51 và có tình ti t giảm nh trách nhi m hình sự theo quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, hông có tình ti t tăng nặng trách nhi m hình sự; có nh n th n tốt; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; có cơ sở xác định ngoài lần phạm tội này, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hi n đầy đủ các nghĩa vụ của công d n ở nơi cư trú.
Theo hướng dẫn tại Nghị quy t số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quy t số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy hông cần cách ly bị cáo ra hỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng có thể giúp cho bị cáo tự cải tạo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Đồng thời, cũng tạo điều i n cho bị cáo ti p tục lao động tạo ra thu nhập, có điều i n ti p tục trực ti p nuôi con do hoàn cảnh inh t gia đình của bị cáo hó hăn.
[6] Từ những ph n tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: theo quy định hoản 5 điều 173 BLHS, người phạm tội c n có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh inh t gia đình hó hăn, hông có tài sản riêng; bị cáo có nghề nghi p làm thuê, thu nhập thấp, bị cáo c n đang nuôi con chưa thành niên ăn học (con sinh năm 2010) nên hông áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[8] Về vật chứng trong vụ án:
[8.1] Tài sản mà bị cáo chi m đoạt của bị hại Nguyễn Thị Tú H1 là 01 đi n thoại di dộng hi u Iphone 12 PROMAX 128G, màu đen, lưng màu xanh, số máy MGCX3J/A, số sê ri: F2LDVOB4OD4H là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Tú H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quy t định xử l vật chứng trả lại tài sản trên cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.
[8.2] Đối với 01 xe mô tô, biển số 83P3-7850.50, số máy E3X9E494842, số hung RLCE3240JY182787 là tài sản của anh Trần Văn T, sinh ngày 02/11/1997, nơi cư trú: Ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An là em trai của bị cáo Trần Thị N, bị cáo mượn xe mô tô trên của anh T để đi đ n ti m tạp hóa của chị Phan Thanh N2 mua hàng hóa. Sau đó, bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản anh T hông bi t. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T, tỉnh Long An hông thu giữ xe mô tô do bị cáo đã giao trả lại cho anh T là đúng quy định của pháp luật.
[8.3] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T hông thu giữ vật chứng nào hác nên hông đề cập xử l vật chứng.
[9] Về trách nhi m d n sự: Bị hại Nguyễn Thị Tú H1 vắng mặt tại phiên t a nhưng hồ sơ vụ án đã có văn bản trình bày i n của bị hại thể hi n bị hại đã nhận lại được tài sản mà bị cáo chi m đoạt. Bị hại hông yêu cầu gì về trách nhi m d n sự.
[10] Về án phí: Bị cáo Trần Thị N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ vào hoản 1 Điều 173; điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: bị cáo Trần Thị N 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng.
3. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huy n T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc người được được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Thị N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền háng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm y t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có quyền háng cáo phần bản án hoặc quy t định có liên quan đ n quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An - VKSND huyện Tân Thạnh; - Công an huyện Tân Thạnh; - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; - cáo; Đương sự; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Ánh |