- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 24-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Phạm Thanh Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn Đ (Tên gọi khác: C lỳ) – sinh năm 1988, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Khu x, thị trấn T.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: Ấp y, xã T.C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn P – sinh năm 1967 và bà Võ Thị Sông P (đã chết); Chưa có vợ con; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 12/8/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đ.Q, Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 15/11/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07/03/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 26/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 19/12/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã D.A, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 26/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Đ.Q, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022 đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị N – sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ a, Khu b, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tấn Đ có 07 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, vừa chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích.
Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 20/12/2022, Nguyễn Tấn Đ đi xe đạp đến Khu b, thị trấn T.P, huyện Tân Phú thì phát hiện căn nhà không khóa cửa, có dựng 01 xe mô tô của chị Nguyễn Thị N ở trước sân nhà, trên xe có để một chiếc áo khoác. Đạt nảy sinh ý định đi vào lục túi áo khoác để trộm cắp tài sản. Đ đi vào lục tìm tài sản trong chiếc áo khoác của chị N nhưng không có tài sản gì, thấy có chìa khóa xe mô tô trong túi áo nên Đ đã lấy ra mở cốp xe của chị N và phát hiện trong cốp xe có số tiền 2.120.000 đồng, Đạt lấy trộm số tiền trên và bỏ đi. Sau khi phát hiện sự việc, chị N đã trình báo Công an thị trấn T.P.
Qua điều tra xác minh hiện trường và thu giữ dữ liệu từ camera chủ nhà, Công an thị trấn T.P xác định được người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị N là Nguyễn Tấn Đ nên đã mời Đ về làm việc. Tại cơ quan điều tra Đ, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Số tiền Đạt trộm cắp được đã sử dụng 200.000 đồng để mua 20 tờ vé số của một người bán vé số không rõ lai lịch, số tiền còn lại 1.920.000 đồng đã bị thu giữ cùng 20 tờ vé số.
Theo Cáo trạng số 23/CT-VKSTP-ĐN ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ mức án từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 200.000 đồng trộm cắp được Đ dùng để mua vé số, chị N không yêu cầu Đạt bồi thường nên không đề nghị xem xét. Đối với 01 xe đạp màu xanh, đề nghị tịch thu đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 20 tờ vé số không trúng thưởng, đề nghị tiêu hủy. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản ảnh, sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Nguyễn Tấn Đ có 07 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, vừa chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích. Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 20/12/2022, Đạt đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị N với số tiền 2.120.000 đồng tại khu 7, thị trấn T.P, huyện Tân Phú. Cả 08 lần trộm cắp tài sản, Đ đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính; do đó thuộc trường hợp định khung hình phạt “Có tính chất chuyên nghiệp” và “tái phạm nguy hiểm”.
Hành vi của Nguyễn Tấn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Ngoài ra còn xem xét tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại, bị cáo tự thú. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, để có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử nhiều lần về tội chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên bị cáo không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ không ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 200.000 đồng Đ trộm cắp được đã dùng để mua vé số nhưng chị N không yêu cầu bị cáo bồi thường, đối với số tiền 1.920.000 đồng chị N đã nhận và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp màu xanh là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 20 tờ vé số đài Đồng Nai mở thưởng ngày 21/12/2022, trong đó 9 tờ có dãy số 618809 và 11 tờ có dãy số 019062 không trúng thưởng, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.920.000 đồng là tài sản hợp pháp của chị N nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N, đối với số tiền 50.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2022.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 xe đạp màu xanh, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy đối với 20 (hai mươi) tờ vé số đài Đồng Nai mở thưởng ngày 21/12/2022, trong đó 09 (chín) tờ có dãy số 618809 và 11 (mười một) tờ có dãy số 019062 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |