- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Liêm. Chức vụ: Hiệu trưởng trường Tiểu học và THCS Tân Hội, huyện T .
2. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng. Chức vụ: Trưởng phòng dân số truyền thông sức khỏe huyện T
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/HSST-QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P - sinh ngày 19/9/2006. Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Nguyễn Văn S , sinh năm 1973 và bà Dương Thị M, sinh năm 1969.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 09/6/2023 chuyển tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P : Ông Trần Duy Khoa - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt)
* Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn P :
Nguyễn Văn S - sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
* Người bị hại:
Phan Thị H - sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng:
Nguyễn Thị Hồng P - sinh năm 2003 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 16/5/2023, Nguyễn Văn P đi đặt trúm lươn ở vườn nhà của bà Phan Thị H , sinh ngày 01/01/1978, trú tại số nhà 468, tổ 15, ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. Khi đi về theo đường bên hông nhà của bà H, P quan sát thấy cửa sau nhà của bà H bị hỏng, chỉ cột bằng dây chì. Đến 17 giờ cùng ngày, P về nhà bấm điện thoại thì bị cha mẹ la mắng về việc không lo làm mà mải chơi điện thoại nên P giận và nảy sinh ý định đột nhập vào nhà của bà H để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 02 giờ ngày 17/5/2023, P lấy một cây kéo bằng kim loại (loại kéo làm cá) rồi đi bộ đến nhà bà H, thấy cửa phía trước đã khóa từ bên trong, cửa ở phía sau bên hông nhà được cột lại bằng sợi dây chì. P dùng kéo chuẩn bị sẵn cắt đứt dây chì và chờ khoảng 15 phút sau thì đột nhập vào trong nhà. Khi vào bên trong, nhìn thấy một chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại VARIO màu xám biển kiểm soát 68T1-596.21 dựng cạnh vách tường gần tủ thờ trên nhà trước. P mới đi tìm thì tìm thấy chìa khóa xe nằm trong mũ bảo hiểm để ở trên giường, lấy chìa khóa xe xong, P dắt xe định đi ra bằng đường cửa sau nhưng do cửa thông ra nhà sau có kích thước hẹp nên không dắt xe ra được. P dẫn xe vòng lại cửa trước và tìm thấy chùm chìa khóa cửa trước treo trên tường gần cánh cửa thì liền lấy mở khóa cửa dắt xe ra đậu ở ngoài sân. Sau đó, P tiếp tục đi vào nhà tìm kiếm và lấy được một cục pin sạc dự phòng điện thoại màu xanh loại 10.000mAh trên tủ tivi, một đôi giày thể thao màu trắng trên kệ giày của bà H rồi đi ra ngoài cửa trước. P khép cửa lại và dắt xe lên đến cầu bê tông ngang Kênh 6 thì khởi động xe chạy rẽ vào đường bê tông cặp Kênh Đòn Dông một đoạn thì dừng lại. Tại đây, P mở cốp xe để kiểm tra thì phát hiện bên trong cốp có 01 (một) cái bóp nhiều màu bên trong có tiền Việt Nam 19.600.000 đồng (Mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng) gồm các mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng; bóp da có giấy tờ xe và một số cái giấy tờ khác không rõ do P không biết chữ, 02 bịch khẩu trang y tế, 01 cái khẩu trang vải. P lấy số tiền bỏ lại cốp xe còn giấy tờ, bóp da, khẩu trang thì quăng xuống hướng bờ Kênh Đòn Dông. P lên xe tiếp tục điều khiển xe về đậu ở đầu Kênh 1000 rồi đi bộ về nhà lấy quần áo rồi chạy chiếc xe vừa trộm được đi đến Thành phố Hồ Chí Minh để đi tìm việc làm. Khi đến Thành phố Hồ Chí Minh, P ghé vào một tiệm sửa xe để thay dàn áo xe, đổi màu sơn xe nhằm tránh bị phát hiện, do không biết chữ nên P không nhớ rõ địa chỉ và tên tiệm. P ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng 03 ngày thì tiếp tục qua tỉnh Bình Dương ở nhà trọ và làm thuê được hai ngày thì bị té xe. Số tiền trộm được, P sử dụng vào mục đích thay đổi dàn áo xe và tiêu xài cá nhân hết. Lúc này, cha mẹ gọi điện kêu nên P điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 22 giờ ngày 29/5/2023, P điều khiển xe về đến nhà ở ấp Đ , xã T , cha của P là ông Nguyễn Văn S nghi ngờ xe P trộm được nên không cho đem vào nhà nên P điều khiển xe qua Đòn Dông Kinh 9 gần trại cưa cây đẩy chiếc xe xuống dưới kênh. Đến ngày 31/5/2023, anh Trần Quốc V ở ấp Kinh 9A, xã T nghe thông tin có một chiếc xe mô tô ở dưới mé Kênh vẫn còn đang cháy đèn nên cùng người dân trục vớt và bàn giao xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Vario màu xanh đen biển kiểm soát 68T1-596.21 cho Công an xã T . Biết không thể trốn tránh được, ngày 01/6/2023, Nguyễn Văn P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú về hành vi phạm tội và bị tạm giữ.
Trong quá trình điều tra đã xác định được trước đó vào ngày 13/3/2023, Nguyễn Văn P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú về tội trộm cắp tài sản, đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Bà Phan Thị H và con gái là Nguyễn Thị Hồng P xác định tài sản bị mất trộm gồm có tiền Việt Nam 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và một số giấy tờ, áo mưa màu đỏ để trong cốp xe, cục pin sạc dự phòng trên tủ TV và đôi giày thể thao của bà Hồng; số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng), 01 nhẫn cưới nhãn hiệu PNJ, 01 sợi dây chuyền vàng 18K của chị P gửi cho bà H để chuẩn bị đi sinh con.
* Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T , tỉnh Kiên Giang tiến hành thu giữ vật chứng là tài sản mà bị can đã trộm cắp để Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá; thu thập tài liệu tiến hành giám định tuổi của bị can:
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/2023/KL-HĐĐG ngày 30/5/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vario giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K có giá 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc nhẫn cưới hiệu PNJ có giá mua vào 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- 01 (một) cục sạc dự phòng màu xanh loại 10.000mAh đã qua sử dụng. Hội đồng thống nhất không thẩm định, do không có vật chứng và tài liệu kèm theo.
- 01 (một) cái áo mưa màu đỏ đã qua sử dụng. Hội đồng thống nhất không thẩm định, do không có vật chứng và tài liệu kèm theo.
Tổng giá trị tài sản cần định giá 36.300.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản mà bị can Nguyễn Văn P đã lấy trộm của bà H là tiền Việt Nam 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), xe mô tô HONDA Vario 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), nhẫn 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và dây chuyền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng 57.300.000 đồng (Năm mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Đối với các tài sản khác gồm: Áo mưa, pin sạc dự phòng, đôi giày thể thao, bóp da do không có vật chứng, không đủ thông tin nên không tiến hành định giá được.
* Do giấy khai sinh của Nguyễn Văn P đăng ký quá hạn và không có tài liệu khác xác định chính xác độ tuổi của P nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trưng cầu giám định độ tuổi của Nguyễn Văn P .
- Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên ngƣời sống số 424/KLGĐĐT-PY, ngày 08/6/2023 kết luận:
- “Tính tại thời điểm ngày 06/6/2023; Nguyễn Văn P có độ tuổi là: Từ 16 năm 04 tháng đến 16 năm 10 tháng.”
- “Tính tại thời điểm ngày 17/5/2023; Nguyễn Văn P có độ tuổi là: Từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng.”
Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành truy tìm áo mưa và giấy tờ tùy thân của bà H mà bị can đã ném bỏ tại Kênh Đòn Dông; cây kéo mà bị cáo khai đã ném ở khu vực kênh trước nhà của bà H nhưng không thu hồi được. Riêng đôi giày thể thao, cục sạc dự phòng P đã bỏ lại ở một nhà nghỉ tại thành phố Hồ Chí Minh không xác định được tên, địa chỉ nhà nghỉ nên không thu hồi được tài sản.
* Cáo trạng số 15/CT-VKSTH ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P . Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự;
* Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường tiền sửa xe HONDA Vario bị hư hỏng do rơi xuống nước là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), tiền Việt Nam 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), nhẫn cưới PNJ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và dây chuyền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng 30.300.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng). Đối với việc bị cáo thay đổi màu sơn xe và những tài sản khác không thu hồi được, bị hại không có ý kiến yêu cầu bồi thường. Bị cáo Nguyễn Văn P và người đại diện Nguyễn Văn S không đồng ý bồi thường mà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại hại Phan Thị H số tiền 30.300.000đồng, bị hại có đơn không yêu cầu gì thêm.
* Đồ vật, vật chứng thu giữ, tạm giữ được xử lý như sau:
- 01 (một) chiếc xe Vario màu đen - trắng, biển kiểm soát 68T1-596.21, số khung: MH1JM5113LK698264; số máy JM51E1698040.
- 01 (một) bảo hiểm xe biển kiểm soát 68T1-085.56 hết hạn, không còn nguyên vẹn.
- 01 (một) bọc khẩu trang y tế nhãn hiệu Quyền Anh.
- 01 (một) cái bóp bằng vải có hoa văn màu xanh, đen.
- 01 (một) cái khẩu trang bằng vải màu xanh con mèo HELLO KITTY.
Các tài sản trên là của bà Phan Thị H , đã được trao trả lại cho chủ sở hữu.
* Ông Trần Duy Khoa - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P :
Thống nhất với cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, và thống nhất với tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường xong cho các bị hại, bị cáo không biết chữ, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 17/5/2023, bị cáo Nguyễn Văn P đã dùng kéo cắt dây chì buộc cửa sau nhà bà Phan Thị H đột nhập vào nhà để lấy trộm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Vario có giá trị 30.000.000 đồng, trong cốp xe có tiền Việt Nam 21.000.000 đồng, 01 (một) chiếc nhẫn cưới nhãn hiệu PNJ có giá trị 3.000.000 đồng, 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K có giá trị 3.300.000 đồng. Tổng số tài sản bị cáo Nguyễn Văn P trộm cắp có giá trị 57.300.000 đồng (Năm mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng).
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, mục đích sử dụng cho nhu cầu cá nhân, bị cáo lén lút trộm cắp tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình, có tác dụng răn đe và đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm.
Bị cáo Nguyễn Văn P , sinh ngày 19/9/2006, tính đến thời điểm phạm tội ngày 17/5/2023 bị cáo được 16 tuổi, 07 tháng, 28 ngày; và theo kết luận giám định độ tuổi trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận: “Tính tại thời điểm ngày 06/6/2023; Nguyễn Văn P có độ tuổi là: Từ 16 năm 04 tháng đến 16 năm 10 tháng.”“Tính tại thời điểm ngày 17/5/2023; Nguyễn Văn P có độ tuổi là: Từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng.” Căn cứ khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 mức hình phạt áp dụng cho bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù có thời hạn mà điều luật quy định, nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường 30.300.000 đồng cho bị hại, bị cáo trình độ học vấn thấp không biết chữ, đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt xử phạt trong mức án đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường tiền sửa xe HONDA Vario bị hư hỏng do rơi xuống nước là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), tiền Việt Nam 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), nhẫn cưới PNJ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và dây chuyền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng 30.300.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng). Đối với việc bị cáo thay đổi màu sơn xe và những tài sản khác không thu hồi được, bị hại không có ý kiến yêu cầu bồi thường. Ngày 27/7/2023 bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại Phan Thị H nhận đủ số tiền 30.300.000đ, bị hại có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ cho bị cáo; nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với vật chứng thu giữ, tạm giữ được xử lý như sau: 01 (một) chiếc xe Vario màu đen trắng, biển kiểm soát 68T1-596.21, số khung MH1JM5113LK698264 số máy JM51E1698040; 01 (một) bảo hiểm xe biển kiểm soát 68T1-085.56 hết hạn, không còn nguyên vẹn; 01 (một) bọc khẩu trang y tế nhãn hiệu Quyền Anh; 01 (một) cái bóp bằng vải có hoa văn màu xanh, đen; 01 (một) cái khẩu trang bằng vải màu xanh con mèo HELLO KITTY; Các tài sản trên là của bị hại bà Phan Thị H , đã được trao trả lại cho chủ sở hữu; là phù hợp.
Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2023.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
* Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Công an huyện T ; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |