- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 23 tháng 2 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh
2. Bà Thân Thị Quyên
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện P, Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đàm Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 2 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/HSST ngày 13/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST - HS ngày 10/2/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: ĐINH VĂN C, sinh năm 2001, tại: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT: xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn C, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị C, đã chết; Vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 18/11/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 9, phường H, thành phố T, Thái Nguyên.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: xóm Bình 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người chứng kiến: Anh Đàm Xuân T, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP Đ, phường H, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
ĐINH VĂN C là công nhân làm thời vụ tại Công ty TNHH Newone vina thuộc Khu công nghiệp Đ, xóm Bình 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tối ngày 08/11/2022, Cần đi làm ca đêm tại Công ty TNHH Newone vina. Đến khoảng 09 giờ ngày 09/11/2022, sau khi tan ca, Cần đi bộ ra khỏi cổng công ty để ra về. Khi ra khỏi cổng công ty TNHH Newone vina, Cần đi bộ sang vỉa hè phía đối diện cổng công ty để đi về phòng trọ. Quan sát thấy có nhiều xe mô tô dựng ở vỉa hè, không có người trông coi, trong đó có xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen - bạc, BKS: 20B1 – 198.80 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 2000, trú tại: Tổ 9, phường H, thành phố T đi đến để phỏng vấn xin việc làm tại Công ty TNHH Newone vina, xe không cắm chìa khoá, không khoá cổ, Cần đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Khi đi qua chiếc xe mô tô này khoảng 03 mét, Cần đi bộ quay lại đến gần chiếc xe mô tô, ngồi lên xe rồi dùng hai chân đẩy chiếc xe đi ra hướng đường đôi Khu công nghiệp Đ rồi đẩy xe về hướng trạm điện của Khu công nghiệp Đ. Vừa đi Cần vừa dùng tay tháo 02 gương chiếu hậu của xe ra để ở giá để hàng giữa xe. Khi dắt xe qua trạm điện, Cần đã vứt 02 chiếc gương này ở rìa đường. Sau đó Cần tiếp tục dắt xe đi theo đường trong khu công nghiệp Đ đến quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1978, trú tại: xóm Bình 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để thay hộ ổ khoá mới. Cần nói với anh Chung là xe của Cần và bị mất chìa khoá. Anh Chung kiểm tra xe và đồng ý thay ổ khóa xe cho Cần, anh Chung thay ổ khóa 04 cạnh gồm cả bộ ổ khóa phía trước để mở khóa khởi động xe và cả ổ khóa phía sau để mở cốp xe cho Cần hết số tiền 250.000 đồng. Cần trả tiền cho anh Chung rồi điều khiển xe đã thay ổ khóa mới ra về, khoảng 05 phút sau Cần điều khiển xe quay lại quán sửa xe của anh Chung để tăng xích, anh Chung đồng ý tăng xích xe cho Cần nhưng không lấy tiền, sau đó Cần điều khiển xe mô tô về phòng trọ của mình tại xóm Trung 2, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Sau khi phát hiện mất tài sản, do bận đi làm nên anh Nguyễn Văn L không đến cơ quan Công an trình báo sự việc mà đến ngày 17/11/2022 anh Lâm mới đến Tổ tiếp nhận thông tin về ANTT của Công an huyện P tại Khu công nghiệp Đ để trình báo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Sau khi tiếp nhận tin báo, tổ công tác đã tiến hành rà soát camera an ninh của các công ty trong Khu công nghiệp Đ để xác minh, rà soát đối tượng trộm cắp xe mô tô nêu trên. Ngày 18/11/2022, khi Cần điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp của anh Lâm đến Công ty TNHH new one vina thì bị tổ công tác của Công an huyện P phát hiện, tiến hành tạm giữ xe mô tô nêu trên và 01 chìa khóa bằng kim loại một đầu bằng nhựa màu đen (khóa mở xe của xe mô tô trên), sau đó bàn giao hồ sơ, vật chứng cho cơ quan CSĐT Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình làm việc tại quán sửa xe của anh Nguyễn Văn C thuộc xóm Bình 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, anh Chung đã giao nộp 01 ổ khóa dạng bốn cạnh đã qua sử dụng và 01 ổ khóa bằng kim loại dạng bốn cạnh được gắn với dây điện có 02 rắc cắm màu trắng, đã qua sử dụng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện P. Đây là 02 ổ khóa cũ của xe mô tô, sau khi thay ra Cần không mang về mà để lại quán sửa xe của anh Chung.
Quá trình làm việc tại phòng trọ số 05 của ĐINH VĂN C thuộc xóm Trung 2, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Cần đã tự giác giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P gồm: 01 áo phông cộc tay màu đen, áo có cổ màu vàng đồng, phía trước ngực áo bên trái có gắn hoa văn, họa tiết màu vàng đồng, đã qua sử dụng, đây là chiếc áo Cần mặc vào thời điểm trộm cắp xe mô tô ngày 09/11/2022 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám - bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng, Cần khai nhận đây là điện thoại Cần sử dụng để liên lạc hàng ngày.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện P, ĐINH VĂN C đã giao nộp 01quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng và 01 đôi dép nhựa màu đen (trên dép có in chữ ASIA) đã qua sử dụng, đây là trang phục Cần mặc trong quá trình trộm cắp tài sản ngày 09/11/20222.
Tại Biên bản làm việc ngày 18/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành kiểm tra nội dung đối với 02 đĩa DVD từ hệ thống lưu trữ camera giám sát tại công ty UTI Vina thuộc Khu công nghiệp Đ cung cấp. Quá trình kiểm tra, ĐINH VĂN C đã xác định người thanh niên có đặc điểm trong video đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen - bạc, BKS: 20B1 – 198.80 chính là Cần.
Tại Biên bản làm việc ngày 23/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành kiểm tra nội dung đối với 01 đĩa DVD từ hệ thống lưu trữ camera của gia đình anh Trịnh Đăng Cường thuộc xóm Bình 1, xã Đ, huyện P cung cấp. Quá trình kiểm tra, ĐINH VĂN C đã xác định người thanh niên có đặc điểm trong video đang dắt xe vào khu vực xóm Bình 1, xã Đ để tìm quán thay ổ khóa xe chính là Cần và sau khi đã thay ổ khóa xe mô tô Cần quay lại quán sửa xe để tăng xích xe mô tô rồi điều khiển xe về phòng trọ.
Ngày 21/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Yêu cầu định giá tài sản số 110/ĐTTH, định giá tài sản đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen-bạc, BKS: 20B1-198.80, đã qua sử dụng. Ngày 23/11/2022, Hội đồng định giá tài sản huyện P đã ra Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS, kết luận giá trị của chiếc xe là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện P tiến hành mở niêm phong, kiểm tra nội dung trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám - bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng thu giữ của ĐINH VĂN C. Quá trình kiểm tra chiếc điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra được nội dung bên trong, theo Cần khai nhận đã mua chiếc điện thoại này đầu năm 2022 và sử dụng để liên lạc hàng ngày, không sử dụng vào việc trộm cắp tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, ĐINH VĂN C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai của ĐINH VĂN C là có căn cứ, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) ổ khóa dạng bốn cạnh đã qua sử dụng và01 (một) ổ khóa bằng kim loại dạng bốn cạnh được gắn với dây điện có 02 rắc cắm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen, áo có cổ màu vàng đồng, phía trước ngực áo bên trái có gắn hoa văn, họa tiết màu vàng đồng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen (trên dép có in chữ ASIA) đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám
- bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng. Tất cả số vật chứng trên, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện P chờ xử lý.
Đối với 02 chiếc gương chiếu hậu của xe mô tô Cần trộm cắp được, Cần khai nhận đã vứt ở rìa đường gần trạm điện của Khu công nghiệp Đ. Cơ quan điều tra đã đến khu vực nêu trên rà soát, truy tìm nhưng không phát hiện và thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/12/2022, người bị hại là anh Nguyễn Văn L đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen-bạc, BKS: 20B1-198.80; 01 (một) chìa khóa bằng kim loại một đầu bằng nhựa màu đen và không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Lâm có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Cần.
Bản cáo trạng số 29/CT- VKSPB, ngày 13/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ĐINH VĂN C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo ĐINH VĂN C từ 6 đến 9 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khóa dạng bốn cạnh đã qua sử dụng và 01 (một) ổ khóa bằng kim loại dạng bốn cạnh được gắn với dây điện có 02 rắc cắm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen, áo có cổ màu vàng đồng, phía trước ngực áo bên trái có gắn hoa văn, họa tiết màu vàng đồng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen (trên dép có in chữ ASIA) đã qua sử dụng.
Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám - bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Cần phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Thông báo cho bị cáo, bị hại biết quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản ghi lời khai, Biên bản xác định hiện trường, Biên bản kiểm tra nội dung đĩa DVD từ hệ thống lưu trữ camera giám sát, kết luận định giá tài sản, và các vật chứng khác có trong hồ sơ của vụ án, do đó có đủ căn cứ để khẳng định:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/11/2022, tại Khu công nghiệp Đ thuộc xóm Bình 1, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, ĐINH VĂN C lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen-bạc, BKS: 20B1-198.80, đã qua sử dụng có giá trị 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) của anh Nguyễn Văn L, tài sản đã trả lại cho anh Lâm là chủ sở hữu quản lý và sử dụng. Hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Cần đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Nội dung khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương nên hành vi này phải xét xử nghiêm bằng pháp luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy, Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo được hưởng tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo bột phát, bị cáo không có tài sản riêng gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, vì vậy HĐXX không đặt vấn đề để giải quyết.
. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với: 01 (một) ổ khóa dạng bốn cạnh đã qua sử dụng và 01 (một) ổ khóa bằng kim loại dạng bốn cạnh được gắn với dây điện có 02 rắc cắm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen, áo có cổ màu vàng đồng, phía trước ngực áo bên trái có gắn hoa văn, họa tiết màu vàng đồng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen (trên dép có in chữ ASIA) đã qua sử dụng là những vật chứng mang dấu vết của tội phạm, không có giá trị sử dụng vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám - bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng. Không là vật chứng trong vụ án tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo ĐINH VĂN C phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- khoản 1, Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 136; Điều 106, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt
ĐINH VĂN C 6 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 18/11/2022.
Tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
Phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khóa dạng bốn cạnh đã qua sử dụng và 01 (một) ổ khóa bằng kim loại dạng bốn cạnh được gắn với dây điện có 02 rắc cắm màu trắng, đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong dán kín còn nguyên vẹn có dấu đỏ ký hiệu OK; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen, áo có cổ màu vàng đồng, phía trước ngực áo bên trái có gắn hoa văn, họa tiết màu vàng đồng, đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy dán kín còn nguyên vẹn có dấu đỏ ký hiệu AO; 01 (một) quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) đôi dép nhựa màu đen (trên dép có in chữ ASIA) đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy dán kín còn nguyên vẹn có dấu đỏ ký hiệu QD.
Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mặt trước màu đen, mặt sau màu xám - bạc (nút bấm home không hoạt động, không có mặt kính bảo vệ camera sau), đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/2/2023 giữa Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên)
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo ĐINH VĂN C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo ĐINH VĂN C có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị hại anh Nguyễn Văn L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo; bị hại - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Minh Huệ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Minh Huệ |