vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. [2] Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS - ST
Ngày: 23/6/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quang Vinh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hải.

2. Bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Vịnh. Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Anh. Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh C.

Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1992.

Nơi sinh: Tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo hiện nay đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai ngiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Làm nông.

Trình độ học vấn: 12/12.

Con ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1968, con bà Bùi Thị V, sinh năm 1968. Gia đình bị cáo có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 18/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HSST ngày 18/01/2021. Ngày 14/10/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 30/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng kể từ ngày bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan CSĐT Công an huyện K từ ngày 17/02/2023, đến ngày 23/02/2023 thì vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1971 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn 1C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Bùi Thị V, sinh năm: 1968 (Có mặt).

Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Anh Nguyễn Công B, sinh năm: 1988 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn I, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/11/2022, Nguyễn Mạnh C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47M1–221.73 đến nhà bạn là Nguyễn Công B, sinh năm 1988 cư trú tại Thôn I, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chơi. Khi đi ngang quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 ở Thôn 1C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Mạnh C vào quán mua đồ thì phát hiện không có người trông coi nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và thực hiện hành vi lấy 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi để lên xe mô tô rồi chở đến nhà Nguyễn Công B. Lúc đang ở tại nhà B, thì bạn của C là Nguyễn Minh V gọi điện thoại rủ đến nhà tại Thôn 1C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nhậu nên C nói với B cho gửi nhờ 03 thùng nước ngọt để hôm sau đến lấy thì B đồng ý. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Mạnh C điều khiển xe mô tô về nhà thì bị bà Nguyễn Thị L phát hiện trên đường và gọi điện báo cho Công an xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tại trụ sở Công an xã Hòa An, C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Pắc, kết luận: 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, loại 320ml có giá trị tại thời điểm bị xâm hại là 600.000 đồng.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-HS ngày 15/5/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Mạnh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

* Phần tranh luận: Đại diện viện kiểm sát sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng số 20/KSĐT-HS ngày 15/5/2023. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Các biện pháp tư pháp:

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, loại 320ml cho bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-221.73, nhãn hiệu Honda Air Blade cho bà Bùi Thị V là chủ sở hữu.

- Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo Nguyễn Mạnh C không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về thủ tục tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố, điều tra thu thập chứng cứ vụ án đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại (khai tại cơ quan điều tra bút lục số 91, 92), phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan, HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

......

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bà L trái pháp luật, ngoài ra hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương.

Xét về mặt ý thức: Bị cáo là người có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của bà L được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Mặc dù nhận thức được điều đó, song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, muốn lấy tài sản của người khác mà không phải trả tiền nên vào lúc 20 giờ ngày 28/11/2022, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi loại 320ml tại quán tạp hóa do bà Nguyễn Thị L, gây thiệt hại về tài sản cho bà L 600.000 đồng. Tuy thiệt hại về tài sản do bị cáo gây ra dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HSST ngày 18/01/2021, đến ngày 14/10/2021 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích nên Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 tiền sự, ngày 30/3/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng kể từ ngày bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 27/02/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 11/2017/HSST, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn còn tiếp tục phạm tội, vì vậy HĐXX xét thấy cần xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét về nhân thân, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại bà Nguyễn Thị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, HĐXX áp dụng điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Phần trách nhiệm dân sự:

- Trong quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị L đã nhận lại 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Về vật chứng:

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, loại 320ml cho bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu.

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-221.73, nhãn hiệu Honda Air Blade cho bà Bùi Thị V là chủ sở hữu.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội trộm cắp tài sản, phần đề xuất mức hình phạt, xử lý phần trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Về vật chứng:

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 03 thùng nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, loại 320ml cho bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu.

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-221.73, nhãn hiệu Honda Air Blade cho bà Bùi Thị V là chủ sở hữu.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ