- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Viết T phạm tội trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 02 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Kéo và bà H’Thủy Bon Jốc Ju.
- Thư ký phiên toà: Ông Vi Thế Nam là Thư ký TAND huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Dương, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2023 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Hoàng Viết T (tên gọi khác: Hoàng Văn T), sinh năm 1988; tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P (đã chết) và bà Tô Thị P, sinh năm: 1963; vợ Đinh Thị V, sinh năm 1994 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: 02. Tại bản án số 31/2020/HS-ST, ngày 23/7/2020 Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Tại bản án số 24/2020/HS-ST, ngày 07/8/2020 Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Tổng hợp hình phạt chung phải chấp hành là 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 16/10/2021; tiền sự: Không;
Về nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67/QĐ-XPHC, ngày 22/7/2019 Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (bị cáo chưa chấp hành nộp phạt là do chưa nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an huyện Krông Nô và hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính); Tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022, đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Krông Nô - Có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Xuân C, sinh năm 1953, địa chỉ thôn L, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1) Bà Đặng Thị N, sinh năm 1979, địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2) Ông Lưu Văn M, sinh năm 1972, địa chỉ: thôn b, xã Đ, huyện T, Đăk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 29/12/2022 Hoàng Viết T đứng ở trước nhà thì thấy ông Trần Xuân C điều khiển xe máy đi qua, lúc này T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi bộ qua nhà ông C. Khi T qua đến nhà ông C thì thấy cửa gỗ bên hông nhà không khoá nên đã dùng tay giật cửa vào bên trong nhà tìm tài sản để trộm cắp. T tìm tại khu vực giường ngủ của ông C phát hiện 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel để trên đầu giường ngủ và 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung, màu xám để trong gối ngủ nên lấy bỏ vào túi quần; T tìm trong các túi quần áo treo trên dây ở đầu giường ngủ thì thấy số tiền 55.000 đồng để ở trong túi quần nên lấy và bỏ vào túi quần. T tiếp tục tìm tài sản trong nhà thì phát hiện 01 chiếc máy cưa lốc màu xanh để gần chân cầu thang nên lấy và đi về theo đường mà T đã đi vào trước đó để về nhà cất giấu tài sản, T đi được khoảng 30 mét đến khu vực vườn bắp trước nhà ông C thì nghe thấy tiếng xe máy ông C đi về, do sợ bị phát hiện nên T giấu chiếc máy cưa lốc ở vườn bắp và cầm những tài sản khác đi bộ về nhà của mình.
Đến khoảng 18 giờ ngày 29/12/2022, T xuống quán nước của bà H ở thôn T, xã N thì gặp Lưu Văn M, T có nói chuyện và hỏi mượn M xe máy biển kiểm soát 48F6 – 9484 đi công việc, M đồng ý và đưa cho T số tiền 200.000 đồng nhờ T nếu có chỗ nào mua ma tuý thì mua giúp cho M. T lấy xe máy của M đi qua khu vực 312, xã Đ, huyện Đ. Khi đến cửa hàng điện thoại “Th bưu điện” của chị Đặng Thị N, T vào cửa hàng bán cho chị N chiếc điện thoại di động Samsung lấy trộm của ông C với giá 1.800.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe máy đến khu vực lô cao su giáp ranh với xã N, huyện K để tìm mua ma tuý về sử dụng, đến nơi T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) và hỏi mua ma tuý thì được người đàn ông này bán cho 01 gói ma tuý với giá là 500.000 đồng và 01 gói ma túy giá 200.000 đồng (mua cho M). Khi mua ma tuý xong, T điều khiển xe máy về nhà của M ở thôn S, xã N, huyện K, T đưa cho M 01 gói ma tuý M nhờ T mua thì M đi ra ngoài vườn cà phê để sử dụng hết số ma tuý vừa mua được còn T lấy cơm ra ăn xong đi về nhà.
* Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ: Chất rắn màu trắng dạng cục trong bì thư ký hiệu N1 hoàn lại có khối lượng 0,0874 gam, đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước 4x6 cm và các gói giấy bạc đựng gửi mẫu giám định đựng trong 01 bì thư (kích thước 16x23cm), mặt trước ký hiệu 07/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông và chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Krông Nô.
- 01 bơm kim tiêm dung tích 80ml/cc.
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen có viền đỏ.
- 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama (OY-5900).
- Số tiền 1.155.000 đồng của Hoàng Viết T.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 04/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Krông Nô xác định tại thời điểm ngày 29/12/2022: 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama (OY-5900) giá trị 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A04S giá trị 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Masstel có giá trị 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 3.150.000 đồng.
Kết luận giám định số 07/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong trong bì thư ký hiệu N1 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu 0,1083 gam là Heroin. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng dạng cục hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có trọng lượng 0,0874 gam.
Cáo trạng số 22/CT-VKS-KrN, ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Hoàng Viết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điề u 249 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điề u 173 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Viết T nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan.
Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông Trần Xuân C số tiền 4.000.000 đồng, ông C chấp nhận số tiền này và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 22/CT-VKS-KrN, ngày 26/4/2023. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Viết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Viết T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điề u 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Viết T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Hoàng Viết T phải chấp hành từ 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ-CQĐT ngày 14/01/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen có viền đỏ và 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama (OY-5900) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Xuân C theo biên bản trả lại tài sản ngày 19/01/2023.
Tịch thu tiêu hủy ma túy hoàn lại sau giám định và 01 bơm kim tiêm dung tích 80ml/cc.
Tịch thu số tiền 1.155.000 đồng và truy thu số tiền 700.000 đồng của Hoàng Viết T liên quan đến tài sản do phạm tội mà có.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo Hoàng Viết T thanh toán cho ông Trần Xuân C số tiền bồi thường là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hoàng Viết T có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Ngày 29/12/2022 Hoàng Viết T vào nhà ông Trần Xuân C ở thôn L, xã N, huyện K trộm cắp 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama giá trị 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A04S có giá trị 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Masstel có giá trị 150.000 đồng và số tiền 55.000 đồng. Sau đó, T mang điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A04S bán với giá 1.800.000 đồng rồi đi mua ma túy về sử dụng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.205.000 đồng. Ngày 30/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô thu giữ trên người Hoàng Viết T là 0,1083 gam Heroin.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Viết T phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điề u 249 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điề u 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi trộm cắp tài sản trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên nhận thức được rất rõ tác hại và sự nguy hiểm của chất ma túy khi sử dụng sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bản thân, ảnh hưởng gia đình và xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, việc sử dụng chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác, dẫn đến cùng lúc phạm hai tội nên tính chất mức độ phạm tội là rất nguy hiểm. Do đó, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/7/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 31/2020/HS-ST thì đến ngày 07/8/2020 Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Tổng hợp hình phạt chung phải chấp hành là 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 16/10/2021, bị cáo chưa được xóa án tích, đến ngày 29/12/2022 bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 30/12/2022 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo Hoàng Viết T đều đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định. Xét thấy bị cáo không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mức hình phạt đối với bị cáo T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và mức hình phạt từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo T phải chấp hành từ 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp vì vậy cần chấp nhận.
. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Viết T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
. Đối với Lưu Văn M nhờ T mua giùm số ma túy số tiền 200.000 đồng về sử dụng, M đã sử dụng hết ma túy nên không có căn cứ xử lý; Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Văn M, M đã bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện theo quyết định số 01/2023/QĐ-TA ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông là đúng quy định.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, không xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô tiếp tục xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
. Đối với chị Đặng Thị N mua 01 điện thoại di động hiệu Sam sung A04S, trị giá 1.800.000 đồng của T, chị N không biết đây là tài sản do T trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại ông Trần Xuân C yêu cầu bị cáo Hoàng Viết T bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông C chấp nhận bị cáo T bồi thường về thiệt hại tài sản cho ông C 4.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm. Xét việc tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản của bị cáo cho bị hại là tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Đối với việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen có viền đỏ và 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama (OY-5900) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Xuân C theo Quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ-CQĐT ngày 14/01/2023 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với ma túy trong bì thư hoàn lại sau giám định có trọng lượng 0,0874 gam và 01 bơm kim tiêm dung tích 80ml/cc là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.155.000 đồng và truy thu số tiền 700.000 đồng của Hoàng Viết T liên quan đến tài sản do phạm tội mà có, do đó cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Bị cáo Hoàng Viết T thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, bị cáo Hoàng Viết T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng (từ 6.000.000 đồng trở xuống). Do bị cáo Hoàng Viết T thuộc diện hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Viết T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điề u 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Viết T 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Viết T phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ-CQĐT ngày 14/01/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen có viền đỏ và 01 cưa lốc nhãn hiệu Oyama (OY-5900) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Xuân C theo biên bản trả lại tài sản ngày 19/01/2023.
Tịch thu tiêu hủy ma túy hoàn lại sau giám định và 01 bơm kim tiêm dung tích 80ml/cc.
Tịch thu số tiền 1.155.000 đồng và truy thu số tiền 700.000 đồng của Hoàng Viết T liên quan đến tài sản do phạm tội mà có.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Krông Nô và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).
3. Về phần bồi thường: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo Hoàng Viết T bồi thường cho bị hại ông Trần Xuân C số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Bị cáo Hoàng Viết T thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, bị cáo Hoàng Viết T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng (từ 6.000.000 đồng trở xuống). Do bị cáo Hoàng Viết T thuộc diện hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Sở TP tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Công an huyện Krông Nô; - Bộ phận HSNVCS (CA huyện); - CC THADS huyện K; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Nhi (đã ký và đóng dấu) |